|
Có thể nói có hai biến cố chính, trong
ngày Chúa Nhật mùng 10 tháng 9 năm 2006, là Thánh Lễ cho
dân chúng tại Tân Quảng Trường Hội Chợ vào ban sáng, từ
lúc 10 giờ đến 12 giờ trưa. Và Buổi đọc Kinh Chiều, gặp
gỡ các Em Rước Lễ lần đầu, trong Nhà Thờ Chính Toà München,
vào ban chiều. Thánh Lễ của Ðức Thánh Cha vào sáng Chúa
Nhật đã có hơn 200,000 tín hữu hiện diện. Bài giảng của
ÐTC trong Thánh Lễ thật nhiều ý nghĩa, nên chúng tôi kính
mời quý vị theo dõi bản dịch việt ngữ nguyên văn bài giảng
này, như sau:
Anh chị em thân mến!
Trước hết, tôi chân thành chào thăm anh
chị em: tôi vui mừng vì có thể gặp lại anh chị em và cử
hành Thánh Lễ với anh chị em. Tôi vui mừng vì có thể một
lần nữa viếng thăm những nơi quen thuộc, đã có ảnh hưởng
quyết định trên đời sống tôi, những nơi đã đào luyện tư
tưởng và tâm tình của tôi, những nơi mà trong đó tôi đã
học Tin Chúa và học sống. Ðây là dịp để cám ơn tất cả mọi
người - còn sống và đã qua đời - đã hướng dẫn và đồng hành
với tôi. Tôi cảm tạ Chúa vì đã ban cho tôi một quê hương
đẹp như thế này và vì những người đã và còn đang làm cho
Ðất Nước này thật sự là quê hương.
Chúng ta vừa nghe qua ba bài đọc Kinh Thánh
mà phụng vụ Chúa Nhật đã chọn cho Chúa Nhật hôm nay. Cả
ba bài đọc khai triển hai chủ đề, mà thật ra chỉ là một
chủ đề duy nhất, nhưng nhấn mạnh khía cạnh này hay khía
cạnh khác, tuỳ theo viễn ảnh. Cả ba bài đọc đều nói về Thiên
Chúa như là trung tâm của thực tại và như là trung tâm của
đời sống cá nhân chúng ta. Tiên tri Isaia thốt lên: "Ðây
là Thiên Chúa của các người! (Is 35, 4).
Thư của Thánh Giacôbê và đoạn phúc âm nói
lên cùng một điều, theo cách thức riêng của mỗi bài đọc.
Hai bài đọc này muốn hướng dẫn chúng ta đến cùng Thiên Chúa,
vừa hướng dẫn ta đi trên con đường ngay chính. Tuy nhiên,
có chủ đề xã hội được gắn với chủ đề "Thiên Chúa":
đó là trách nhiệm hỗ tương chúng ta, đó là trách nhiệm chúng
ta phải thực hiện ưu thế của công bằng và tình thương trong
thế giới. Ðiều này được biểu lộ trong bài đọc thứ hai, trong
đó Thánh Giacôbê, một người có họ hàng gần với Chúa Giêsu,
ngỏ lời với chúng ta. Thánh nhân ngỏ lời với một cộng đoàn,
trong đó con người bắt đầu có thái độ sống tự kiêu, bởi
vì trong cộng đoàn có những con người giàu có và có địa
vị, nhưng là cộng đoàn có nguy cơ thiếu đi mối quan tâm
đối với quyền lợi của người nghèo. Trong những lời của mình,
Thánh Giacôbê hé mở cho ta nhìn thấy dung mạo của Chúa Giêsu,
dung mạo của Một Vị Thiên Chúa nhập thể làm người, và, cho
dù thuộc dòng tộc vua Ðavid, nghĩa là dòng tộc vương giả,
Chúa Giêsu trở thành con người đơn hèn trong số những kẻ
đơn sơ chất phát; Chúa không ngồi trên ngai, nhưng cuối
cùng chịu chết trong sự khó nghèo tột cùng trên thập giá.
Tình yêu thương đối với người lân cận, một tình thương trước
hết như là mối quan tâm đối với công bằng, là viên đá nền
tảng cho đức tin và cho tình thương đối với Thiên Chúa.
Thánh Giacôbê gọi đó là "luật vương giả" (x. Giac
2,8); cách nói gợi ý cho chúng ta nhớ lại lời Chúa Giêsu
thường dùng: tính cách vương quyền của Thiên Chúa, sự thống
trị của Thiên Chúa. Ðiều này không chỉ bất cứ vương quốc
nào đến vào lúc này hay lúc khác, nhưng chỉ rằng Thiên Chúa
phải trở nên sức mạnh quyết định cho đời sống chúng ta và
cho hành động chúng ta. Ðó là điều chúng ta xin, khi cầu
nguyện: "Nước Cha trị đến". Chúng ta không xin
bất cứ sự gì xa lạ, mà có lẽ chúng ta không muốn cảm nghiệm.
Trái lại, chúng ta cầu nguyện cho Thánh Ý Thiên Chúa trong
giây phút này định đoạt cho ý muốn chúng ta, và như thế
Thiên Chúa ngự trị trong thế gian; như thế, chúng ta cầu
nguyện sao cho công bằng và tình thương trở thành sức mạnh
quyết định trong trật tự trần gian. Một lời cầu nguyện như
vậy chắc chắn hướng trước tiên về Thiên Chúa, nhưng đánh
động chính con tim chúng ta. Nhưng thử hỏi chúng ta thật
sự có muốn như vặy hay không? Chúng ta có đang định hướng
đời sống chúng ta theo hướng này không? Thánh Giacôbê gọi
"luật vương giả", luật cho vương quyền của Thiên
Chúa, và cũng gọi đây là "luật của tự do" như
sau: nếu tất cả suy tưởng và sống theo Thiên Chúa, thì bấy
giờ tất cả chúng ta trở thành bằng nhau, chúng ta sẽ trở
thành tự do và như thế phát sinh nhân loại đích thật. Tiên
tri Isaia, trong bài đọc thứ I, khi nói về Thiên Chúa, thì
đồng thời cũng nói về sự cứu rỗi cho những kẻ khổ đau; và
thánh Giacôbê, khi nói về trật tự xã hội như là biểu lộ
không thể chối bỏ được của đức tin chúng ta, thì cũng nói
đến Thiên Chúa, mà chúng ta là những con cái của Ngài.
Giờ đây, chúng ta chú ý đến đoạn Phúc âm,
kể lại việc Chúa Giêsu chữa lành một người câm điếc. Ở đây
chúng ta cũng gặp lại một lần nữa hai khía cạnh của cùng
một thực tại duy nhất. Chúa Giêsu tận tuỵ hiến thân cho
kẻ khổ đau, cho những ai bị loại ra ngoài lề xã hội. Chúa
chữa lành cho họ và, qua việc mở ra cho họ khả thể sống
và quyết định, Chúa đưa họ vào trong sự bình đẳng và trong
tình huynh đệ. Ðiều này có liên hệ đến tất cả chúng ta:
Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta biết được định hướng của hành
động chúng ta. Trọn cả câu chuyện tuy nhiên còn trình bày
một chiều kích sâu xa hơn mà các giáo phụ đã đưa ra ánh
sáng một cách rõ ràng và là chiều kích liên hệ cách riêng
đến chúng ta ngày nay. Các giáo phụ nói về đề tài con người
và nói cho con người của thời đại các ngài. Nhưng điều mà
các ngài nói, cũng có liên hệ một cách mới mẻ cả với chúng
ta, những con người thời hiện đại. Không những có sự điếc
tai của thân thể?#224;m cho con người gần như hoàn toàn
bị tách ra khỏi sinh họat xã hội. Còn có một sự giảm yếu
trong sự lắng nghe đối với Thiên Chúa, mà chúng ta đang
gặp phải, nhất là trong thời đại chúng ta. Chúng ta không
thể cảm thấy Thiên Chúa được nữa; có quá nhiều làn sóng
khác nhau chiếm cứ đôi tai chúng ta. Ðiều được nói về Thiên
Chúa, xem ra như là điều "tiền khoa học" đối với
chúng ta, xem ra như không còn thích hợp với thời đại chúng
ta nữa. Với sự giảm yếu sự lắng nghe, hoặc nói cách khác,
với sự điếc tai tinh thần đối với Thiên Chúa, thì cũng bị
mất đi khả năng chúng ta nói cùng với Ngài hoặc nói với
Ngài. Như thế, chúng ta bị thiếu đi một nhận thức quyết
định. Những giác quan nội tâm chúng ta gặp nguy hiểm bị
mai một đi. Với sự thiếu mất sự nhận thức này, thì tầm mức
của tương quan chúng ta với thực tại cũng bị bao vây một
cách mãnh liệt và đầy nguy hiểm. Chân trời của đời sống
chúng ta bị thu hẹp một cách đáng ngại.
Phúc âm kể lại rằng Chúa Giêsu đưa ngón
tay chạm đến lỗ tai của người câm điếc, và thấm một chút
nước miếng của Ngài trên lưỡi của người bệnh và nói: Effata
- Hãy mở ra! Tác giả phúc âm đã giữ lại cho chúng nguyên
ngữ tiếng aramaica mà Chúa Giêsu đã nói, và như thế đưa
chúng ta trực tiếp vào trong giây phút đó. Ðiều mà được
kể lại trong phúc âm, là điều duy nhất, tuy nhiên không
thuộc về quá khứ xa xôi: Chúa Giêsu thực hiện cũng một điều
như vậy một cách mới mẻ và làm lại điều đó nhiều lần cả
trong thời đại hôm nay. Trong bí tích Rửa Tội, Chúa Giêsu
đã hoàn tất trên chúng ta cử chỉ chạm đến này, và đã nói
với chúng ta: Effata, hãy mở ra! Ðể làm cho chúng ta có
khả năng cảm nghiệm được Thiên Chúa và như thế để cho chúng
ta có lại khả thể nói chuyện với Thiên Chúa. Nhưng biến
cố này - biến cố Bí Tích Rửa Tội - không có gì là ảo thuật.
Bí tích Rửa tội mở ra một con đường. Bí Tích đưa chúng ta
vào trong cộng đoàn của những kẻ có khả năng lắng nghe và
nói, đưa chúng ta vào trong sự hiệp thông với chính Chúa
Giêsu, Ðấng duy nhất đã nhìn thấy Thiên Chúa Cha và sau
đó đã có thể nói về Ngài (x. Gn 1,18): qua đức tin, Chúa
Giêsu muốn chia sẻ với chúng ta việc Người nhìn thấy Thiên
Chúa, việc Người lắng nghe Thiên Chúa và nói chuyện với
Thiên Chúa. Con đường của kẻ lãnh nhận bí tích rửa tội,
phải là một diễn tiến của sự phát triển từ từ, trong đó
chúng ta lớn lên trong cuộc sống hiệp thông với Thiên Chúa,
và như thế đạt được một cái nhìn mới khác về con người và
về tạo vật.
Phúc âm mời gọi chúng ta hãy ý thức rằng
trong chúng ta có bị thiếu hụt về khả năng nhận thấy - một
sự thiếu mà lúc đầu chúng ta không lưu ý được như vậy -
bởi vì phần còn lại được xử dụng bởi sự khẩn thiết và hợp
lý của nó; bởi vì từ bên ngoài xem ra như tất cả đều tiến
hành một cách bình thường, cả khi chúng ta không còn đôi
tai lắng nghe và đôi mắt nhìn thấy Thiên Chúa nữa và chúng
ta sống không có Ngài. Nhưng thử hỏi có phải tất cả đều
diễn ra cách đơn thuần, khi Thiên Chúa bị thiếu đi trong
đời sống chúng ta và trong thế giới chúng ta hay không?
Trước khi đặt thêm những câu hỏi nữa, tôi muốn kể lại đây
một chút về kinh nghiệm tôi đã trải qua trong những lần
gặp gỡ với các giám mục trên khắp thế giới. Giáo Hội Công
Giáo tại Ðức là thật cao cả trong những hoạt động xã hội
của mình, trong sự sẵn sàng trợ giúp cho bất cứ đâu xem
ra cần thiết. Luôn luôn xảy ra, trong những lần về viếng
Mộ Thánh Tông Ðồ, các Giám Mục, và mới đây đến từ Phi Châu,
đã thuật lại cho tôi với tâm tình biết ơn, về sự quảng đại
của người công giáo Ðức và xin Tôi thay thế các ngài nói
lên lòng biết ơn đó với giáo hội Ðức. Cả các giám mục miền
Baltic, mới đến Roma viếng mộ hai thánh tông đồ Phêrô và
Phaolô, đã nói với tôi về việc như thể nào những người công
giáo Ðức đã trợ giúp cho các ngài thật nhiều trong việc
xây dựng lại những ngôi nhà thờ bị xuống cấp trầm trọng,
vì những thập niên cai trị của cộng sản. Nhiều lần các vị
Giám Mục Phi Châu, nói như sau: "Nếu tôi trình những
dự án xã hội cho bên Ðức, thì tôi gặp được liền ngay những
cánh cửa mở sẵn để trợ giúp. Nhưng nếu tôi đến xin với dự
án rao giảng phúc âm, thì tôi gặp phải thái độ dè dặt. Dĩ
nhiên xuất hiện rõ ràng, trong vài người, ý tưởng cho rằng
những dự án xã hội cần được cổ võ cách khẩn thiết nhất,
trong khi mà những điều thuộc về Thiên Chúa, hay đức tin
công giáo, lại bị xem như là những việc riêng và có tầm
quan trọng nhỏ hơn. Tuy nhiên kinh nghiệm của những vị giám
mục này nói lên rằng việc rao giảng phúc âm phải có ưu tiên
hơn, rằng Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô phải được nhìn
nhận, phải được tin tưởng và yêu mến, phải làm cho các tâm
hồn ăn năn trở lại, ngõ hầu những công việc xã hội có thể
tiến bộ, ngõ hầu được mở ra sự hoà giải, ngõ hầu - chẳng
hạn - bệnh AIDS có thể được diệt trừ, bằng cách giải quyết
thật sự những nguyên nhân sâu xa của căn bệnh và bằng việc
chăm sóc người bệnh với chú tâm phải có và với tình thương.
Công việc xã hội và phúc âm không thể tách rời ra khỏi nhau.
Nơi nào chúng ta mang đến cho con người chỉ những sự hiểu
biết, tài khéo chuyên môn, khả năng kỹ thuật, và các phương
tiện, thì quả thật ở đó chúng ta mang đến quá ít. Lúc đó
sẽ mau phát sinh những thể thức bạo lực; và lúc đó khả năng
tàn phá và giết chết sẽ trở thành phương thế thường được
dùng đê chiếm đọat quyền hành - một quyền hành đáng lý ra
cách này hay cách khác phải mang đến quyền lợi, nhưng lại
không bao giờ còn có khả năng làm như đáng phải làm như
vậy nữa. Như thế, người ta càng ngày càng đi xa khỏi sự
hoà giải, xa khỏi sự dấn thân chung cho công bằng và tình
thương. Những tiêu chuẩn, mà theo đó kỹ thuật phải phục
vụ cho quyền lợi và tình thương, (những tiêu chuẩn này)
bị mất đi; nhưng chính từ những tiêu chuẩn này mà tất cả
tuỳ thuộc vào; những tiêu chuẩn không phải chỉ là những
lý thuyết mà thôi, nhưng còn soi sáng tâm hồn, và như thế
đặt lý trí và hành động trên con đường đoan chính. Những
dân tộc Phi Châu và Á Châu khâm phục những áp dụng kỹ thuật
và khâm phục khoa học nơi chúng ta, nhưng đồng thời lo sợ
trước lối lý luận hoàn toàn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi
cái nhìn của con người vừa cho rằng hình thức chóp đỉnh
của lối lý luận này phải áp đặt trên văn hoá của họ. Ðiều
hăm dọa thật sự đối với căn cước của họ, không phải là đức
tin kitô, nhưng là sự khinh thị Thiên Chúa và thái độ có
ác ý xem việc nhạo báng điều thiêng thánh như là một quyền
của sự tự do và việc xem cái lợi như là tiêu chuẩn luân
lý tối cao cho những thành công tương lai của công cuộc
nghiên cứu.
Các bạn thân mến, thái độ có ác ý nói trên
không phải là thái độ bao dung và cởi mở văn hoá mà các
dân tộc đang chờ đợi, và cũng không phải là thái độ mà tất
cả chúng ta đây mong muốn. Sự bao dung mà tất cả chúng ta
đang cần đến, gồm có việc kính sợ Thiên Chúa, việc tôn trọng
điều gì là thánh thiêng đối với kẻ khác. Sự tôn trọng đối
với điều mà kẻ khác cho là thiêng thánh, đòi hỏi chính chúng
ta biết học lại cho có lòng tôn sợ Thiên Chúa. Ý nghĩa này
của sự tôn trọng có thể phát sinh lại trong thế giới tây
phương, chỉ khi nào đức tin vào Thiên Chúa lớn lên lại,
chỉ khi nào Thiên Chúa được hiện diện lại nhờ qua chúng
ta và trong chúng ta.
Ðức tin này, chúng ta không đem áp đặt
cho bất cứ ai. Một lối chiêu dụ tín đồ như thế là điều nghịch
lại với kitô giáo. Ðức tin chỉ được phát triển trong sự
tự do. Chúng ta kêu gọi sự tự do của con người hãy biết
mở rộng tâm hồn đón nhận Thiên Chúa, đi tìm Ngài và lắng
nghe ngài. Quy tụ nơi đây, chúng ta hết lòng cầu xin Chúa
hãy phán lại lần nữa lời "Effata! Hãy mở ra! Ðể chữa
lành sự giảm yếu khả năng lắng nghe Thiên Chúa, giảm yếu
khả năng nhìn thấy công việc của Ngài, giảm yếu khả năng
lắng nghe Lời Ngài; xin Ngài làm cho chúng ta có khả năng
nhìn thấy và lắng nghe. Chúng ta khẩn xin Chúa giúp chúng
ta gặp lại lời của sự cầu nguyện, lời mà phụng vụ mời gọi
chúng ta, lời mà công thức thiết yếu đã được trao ban cho
chúng ta trong Kinh Lạy Cha.
Thế giới đang cần đến Thiên Chúa. Chúng
ta đang cần đến Thiên Chúa. Nhưng thử hỏi Thiên Chúa nào
đây? Trong bài đọc thứ nhất tiên tri ngỏ lời với một dân
tộc đang bị áp bức và nói: Việc trả thù của Thiên Chúa sẽ
đến (Is 35,4). Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy người dân
tưởng tượng ra việc trả thù đó phải như thế nào. Nhưng chính
tiên tri nói ra sau đó về sự trả thù của Thiên Chúa là như
thế nào: nó hệ tại nơi lòng tốt lành có sức chữa lành của
Thiên Chúa. Giải thích cuối cùng của lời tiên tri, chúng
ta gặp thấy được trong Ðấng đã chết trên thập giá: trong
Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể. Sự trả thù của Thiên
Chúa là Thập Giá, là thưa không đối với bạo lực, là tình
yêu thương không cùng. Ðây là Thiên Chúa chúng ta cần. Chúng
ta đừng thiếu sót trong việc tôn trọng những tôn giáo và
văn hoá khác, đừng thiếu sót trong việc tôn trọng sâu xa
đối với Niềm Tin của họ, nếu chúng ta tuyên xưng lớn tiếng
và rõ ràng vị Thiên Chúa chống lại bạo lực bằng chính sự
đau khổ của mình, rằng trước sự dữ và quyền lực của sự dữ,
Thiên Chúa đưa ra, như là giới hạn và như là sự thắng vượt,
lòng nhân từ của ngài. Chúng ta khẩn cầu Ngài, xin Ngài
hiện diện giữa chúng ta và giúp chúng ta trở thành những
chứng nhân đáng tin của Ngài. Amen.
Sau thánh lễ, trước khi xướng kinh Truyền
Tin Trưa Chúa Nhật và ban phép lành cho dân chúng, ÐTC vắn
tắt nhắc lại mẫu gương của Mẹ Maria, người nữ của sự lắng
nghe, đối với Thiên Chúa và con người.
Thánh Lễ bắt đầu lúc 10 giờ sáng. Nhưng
từ 4 giờ sáng các tín hữu đã kéo đến, để có chỗ gần khán
đài cao và có hình lục giác. |