| 18
tháng 5 năm 1920: Ðức đương kim Giáo Hoàng tên là
Karol Wojtyla sinh tại Wadowice (Kraków) Ba Lan. Cha là
Karol Wojtyla, mẹ là Emilia Kaczorowska. Ngài có người anh
tên là Edmund Wojtyla, sinh ngày 27 tháng 8 năm 1906 ở Kraków,
là bác sĩ làm việc tại bệnh viện Powszechny ở Bielsko.
Tháng 9 năm 1926:
Bắt đầu đi học trường tiểu học dành cho con trai, sau đó
học trung học tại Marcin Wadowita. Suốt thời gian trung
học, cậu Karol học rất giỏi, đứng đầu mọi môn trong tất
cá các lớp.
Năm 1934-1938:
Là học sinh diễn kịch xuất sắc nhất ở Wadowice. Trong thời
gian ở trung học, cậu là trưởng hội Con Cái Ðức Mẹ và trong
khoảng thời gian này cậu Karol đi Tiệp Khắc. Ðây là lần
đầu tiên cậu ra ngoại quốc.
22 tháng 6 năm
1938: Ghi danh theo học phân khoa triết học thuộc
viện đại học Jagellonian ở Kraków. Học khóa có tên Triết
Học Ba Lan.
6 tháng 2 năm
1939: Tại viện đại học Jagellonian, cậu gia nhập
hội sinh viên, sinh hoạt trong nhóm Bác Ái và Tôn Sùng Thánh
Thể.
Năm 1940:
Gia nhập tổ chức kịch nghệ diễn chui do đạo diễn Tadeusz
Kudlinsi điều khiển. Trong thế chiến thứ hai, để tránh khỏi
bị Ðức trục xuất và bắt giữ, cậu Karol đi làm thợ cắt đá
ở một mỏ đá tại Zakrzówek.
Tháng 10 năm 1942:
Trong một chủng viện bí mật ở Kraków, Thầy Karol bắt đầu
học làm linh mục. Trong thời gian Ðức chiếm Ba Lan, Thầy
đã bí mật ghi danh học phân khoa Thần Học tại viện đại học
Jagellonian. Năm 36 tuổi, Thầy đỗ hai văn bằng tiến sĩ và
làm giáo sư môn Ðạo Ðức Học.
29 tháng 2 đến
12 tháng 3 năm 1944: Bị tai nạn xe ô-tô phải nằm
nhà thương
1 tháng 11 năm
1946: Thầy Karol thụ phong linh mục. Cũng như các
lần chịu chức trước, lần này cũng do đức Tổng Giám Mục Adam
Sapieha truyền chức trong một ngôi nhà nguyện riêng.
Mùa Hè 1947:
Cùng với các cha Starowieyski, Ngài đi sang Pháp, Bỉ, Hòa
Lan. Ở Charleroi, Ngài thi hành mục vụ cho các công nhân
Ba Lan.
14 -19 tháng 6
năm 1948: Ngài bảo vệ thành công luận án tiến sĩ
Triết Học. Luận án với đề tài: Những Vấn Ðề Ðức Tin Trong
Các Tác Phẩm Của Thánh Gioan Thánh Gía. Luận án đã được
các giáo sư phê ưu hạng.
16 tháng 12 năm
1948: Ngài đậu văn bằng Cao Học Thần Học sau đó đậu
Tiến Sĩ Thần Học tại phân khoa Thần Học viện đại học Jagellonian
ở Kraków. Bằng tiến sĩ Thần Học đã được chấm Ưu hạng.
1 tháng 9 năm
1950: Từ tháng 9 năm 1950 đến 1953 Ðức Tổng Giám
Mục Baziak cho phép Ngài nghỉ công tác mục vụ để chuẩn bị
thi vào ngạch giáo sư đại học. Trong thời gian này ngài
là tuyên úy sinh viên và các người trong bệnh viện.
Năm 1954:
Phân khoa thần học tại đaị học Jagellonian bị giải tán,
được chuyển về đại chủng viện Kraków và Ngài vẫn tiếp tục
học tại đây. Ngài nhận lời mời dậy tại Viện Ðại Học Công
Giáo ở Lublin.
28 tháng 9 năm
1958: Ngài thụ phong chức Giám Mục tại nhà thờ chánh
tòa ở Wavel.
16 tháng 6 năm
1962: Ðức Tổng Giám Mục Baziak tạ thế, Ngài được
đề cử Giám Mục đại diện cai quản Kraków
5 -15 tháng 12
năm 1963: Cùng với một số Giám Mục của nhiều nước
khác nhau, Ngài đi hành hương Ðất Thánh.
30 tháng 12 năm
1963: Ngài được chỉ định làm giám mục chính tòa Kraków
13 tháng Giêng
1964: Nhận được chỉ dụ của ÐGH bổ Ngài làm Tổng Giám
Mục Kraków
18 tháng 11 năm
1965: Ðại diện Hội Ðồng Giám Mục Ba Lan, Ngài trao
Lá Thư Hòa Giải cho các vị Giám Mục Ðức. Trong lá thư này
có câu nổi tiếng: “Chúng Tôi Tha Thứ và Xin Sự Tha Thứ”
29 tháng 12 năm
1966: Khi Ủy Ban Giám Mục và Tông Ðồ Giáo Dân được
thành lập, Ðức Tổng Giám Mục Karol Wojtyla được bầu vào
chức chủ tịch.
28 tháng 6 năm
1967: Ngài được Ðức Phaolô VI thăng chức Hồng Y tại
nguyện đường Sistine.
28 tháng 2 năm
1969: Ngài đi thăm giáo xứ Thân Thể Chúa, nhân dịp
này Ngài viếng thăm Công Ðồng Do Thái và thăm Hội Ðường
Do Thái Giáo ở khu Kazimierz tạiKraków.
3-8 tháng 3 năm
1975: Lần đầu tiên Ngài tham dự Thượng Hội Ðồng Giám
Mục Thế Giới
11-12 tháng 8
năm 1978: Ngài có mặt trong đám tang Ðức Phaolô VI
ở Roma.
26 tháng 8 năm
1978: Hồng Y Albino Luciani được bầu làm Giáo Hoàng
và lấy danh hiệu là Gioan Phaolô I.
3-4 tháng 10 năm
1978: Ngài rời Ba Lan đi tham dự đám tang ÐGH Gioan
Phaolô I. Vị Giáo Hoàng này tại vị 34 ngày và mất vị bệnh
đau tim
16 tháng 10 năm
1978: Hồng Y Karol Wojtyla, Tổng Giám Mục Kraków,
Ba Lan được bầu làm Giáo Hoàng thứ 264 lúc 5 giờ 15 chiều.
Ngài là người thứ 263 kế vị thánh Phêrô cai quản Hội Thánh
Công Giáo. Ngài cũng là người Ba Lan đầu tiên, và không
phải là người Ý Ðại Lợi, được bầu làm Giáo Hoàng trong 455
năm. Lúc được bầu làm Giáo Hoàng, Ngài mới có 58 tuổi, là
vị Giáo Hoàng trẻ trung nhất trong 132 năm. 6 ngày sau đó,
Ngài chính thức lên ngôi Giáo Hoàng và nhận danh hiệu là
Gioan Phaolô II.
1 tháng 2 năm
1979: Là Giáo Hoàng, Ngài thực hiện chuyến tông du
đầu tiên đến các nước Nam Mỹ là Cộng Hòa Dominican, Bahamas,
và Mễ Tây Cơ. Ðồng thời Ngài tham dự phiên họp Thượng Hội
Ðồng Giám Mục các nước Mỹ Châu Latin.Trong phiên họp này,
ÐGH đã ban huấn từ về nền thần học giải phóng mà Giáo Hội
Công Giáo trong vùng này đang phải đối diện.
2 tháng 6 năm
1979: Sau khi nhận chức Giáo Hoàng được 8 tháng,
lần đầu tiên Ngài trở về cố hương Ba Lan và ở lại trong
9 ngày. Ðiểm đặc biệt đáng ghi nhớ là chính những ngày này
ÐGH đã hỗ trợ việc thành lập Công Ðoàn Ðoàn kết, một tổ
chức công đoàn độc lập trong khối cộng sản Sô Viết cũ.Công
đoàn này đã góp phần vào việc làm sụp đổ chế độ cộng sản
ở Ba Lan và toàn khu Ðông Âu
Mùa thu năm 1979:
Ngài thực hiện chuyến tông du tới Ái Nhĩ Lan. Tai đây 1,200,000
người đã tham dự thánh lễ do Ngài cử hành. Ðây là con số
giáo dân lớn nhất chưa từng có tham dự một thánh lễ.
4 tháng 4 năm
1980: Tại đại Giáo Ðường Thánh Phêrô, lần đầu tiên
một vị Giáo Hoàng ngồi giải tội cho giáo hữu trong ngày
Thứ Sáu Tuần Thánh.
13 tháng 5 năm
1981: Lúc 11 giờ 19 một thanh niên người Thổ Nhĩ
Kỳ tên là Mehmet Alì Agca dùng súng bắn Ngài và bụng và
tay trong lúc Ngài đi quanh trong quảng trường Thánh Phêrô.
Ngài bị thương nặng, được đưa và bệnh viện Gemelli và trải
qua cuộc giải phẫu trong 6 tiếng đồng hồ. Ngài phải ở laị
trong bệnh viện này trong 20 ngày.
17 tháng 5 năm 1981: Ðức
Giáo Hoàng đọc kinh truyền tin tại bệnh viện Gemelli. Ngài
nói: Xin mọi người hãy cầu nguyện cho người anh em đã bắn
tôi, tôi thực tâm tha thứ cho anh.
20 tháng 6 năm
1981: Ðức Giáo Hoàng nhập bệnh viện vì vết thương
bị bắn nhiễm trùng.
5 tháng 8 năm
1981: Ngài đươc giải phẫu vết thương và nằm trong
bệnh viện 9 ngày.
13 tháng 5 năm
1983: Ðang lúc thăm nơi Ðức Mẹ hiện ra ở Fatima,
Bồ Ðào Nha, Ngài bị một người Tây Ban Nha cầm kiếm đâm chém.
Ngài thoát hiểm. Vụ này xảy ra đúng một năm sau vụ người
Thổ Nhĩ Kỳ bắn Ngài. Ngài tạ ơn Ðức Mẹ đã cứu chữa mạng
sống mình.
15 tháng 9 năm
1982: Ngài tiếp lãnh tụ Mặt Trận Giải Phóng Palestine
là ông Yasser Arrafat tại điện Vatican. Vụ này làm cho Israel
và các nhóm Do Thái chỉ trích Ngài.
27 tháng 12 năm
1983: Sau lễ Giáng Sinh, Ngài vào nhà tù Rebibbia
để thăm anh Alì Agca, một người Thổ Nhĩ Kỳ mà đã định sát
hại Ngài vào ngày 13 tháng 5 năm 1981. Ngài xin chính phủ
Ý tha thứ cho anh và thả anh về Thổ Nhĩ Kỳ.
1986: Ngài
là vị Giáo Hoàng đầu tiên thăm Hội Ðường Do Thái Giáo. Trong
lúc viếng thăm tại đây, Ngài đã chính thức lên án việc tàn
sát người Do Thái trong quá khứ.
1 tháng 12 năm
1989: Lần đầu tiên tại điện Vatican, Ðức Giáo Hoàng
tiếp Tổng Bí Thư liên bang Sô Viết, ông Mikail Gorbachev.Vatican
lẫn Moscow đều chính thức tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại
giao.
5 tháng 10 1991:
Kể từ thời Cải Cách, lần đầu tiên trong đại giáo đường thánh
Phêrô ở Vatican, Ðức Giáo Hoàng cùng các giám mục Công Giáo
của Thụy Ðiển và Phần Lan cùng qùy cầu nguyện chung với
hai vị Giám Mục Tin Lành phái Lutheran.
12 tháng 7 năm
1992: Sau khi nguyện kinh Truyền Tin ở công trường
thánh Phêrô, ÐGH loan báo Ngài sẽ nhập bệnh viện Gemelli
để chẩn bệnh.
15 tháng 7 năm
1992: Bệnh viện Gemelli thưc hiện cuộc giải phẫu
cắt bướu trong ruột và 11 ngày sau đó ÐGH được xuất viện.
11 tháng 11 năm
1993: ÐGH bị ngã lúc đang ở sảnh đường Ban Ơn. Ngài
bị trật xương vai và cuộc giải phẫu kéo dài một ngày. Tuy
nhiên, vai không được cử động trong một tháng.
30 tháng 12 năm
1993: Tòa Thánh Vatican chính thức thiết lập quan
hệ ngoại giao với Do Thái. Tại Jerusalem, Ngài ký thỏa hiệp
về một số nguyên tắc căn bản quy định mối liên lạc giữa
Tòa Thánh và Do Thái.
29 tháng 4 năm
1994: ÐGH ngã, bị gẫy xương hông, phải nằm trong
bệnh viện Gemelli để giải phẫu. Một tháng sau,Ngài được
xuất viện.
6 tháng 10 năm
1996: ÐGH nhập bệnh viện Gemelli để cắt ruột thừa.
Cuộc giải phẫu bắt đầu ngày 8 tháng 10 và được xuất viện
một tuần sau đó. Trong tháng 9, ÐGH vì bị đau ruột 2 lần,
Ngài không cử hành thánh lễ được.
21-16 tháng Giêng
năm 1998: Chủ Tịch Cuba Fidel Castro phá lệ thường
không mặc quân phục để đón quốc khách. Hôm nay, chào mừng
ÐGH, ông mặc bộ quần áo dân sự. Ðức Giáo Hoàng đến thăm
nước cộng sản Cuba trong 5 ngày. Ngài đến Cuba để làm sống
lại tinh thần Công Giáo và khuyến khích người Cuba tìm kiếm
đường lối hòa giải. Cuối cuộc viếng thăm ÐGH đã đọc bài
diễn văn lên tiếng chỉ trích chính phủ Hoa Kỳ áp đặt chính
sách cấm vận kinh tế Cuba.
23 tháng 3 năm
1999: Hãng Sony và Columbia phát hành đĩa nhạc CD
dài 49 phút có tên là ABBÀ PATER. Ðây là đĩa nhạc đầu tiên
có tiếng đọc phúc âm của ÐGH.
24-25 tháng 12
năm 2000: Như là một phần của năm Thánh, lần đầu
tiên ÐGH cử hành cả lễ đêm Giáng Sinh lẫn lễ Ban Phép Lành
Cho Thế Giới tại quảng trường thánh Phêrô. Trong mùa Giáng
sinh năm 2000, ngày nào Ngài cũng đọc kinh Truyền Tin với
dân chúng và dân chúng lần lượt xếp hàng đi ngang qua Cửa
Thánh.
20-26 tháng 3
năm 2000: ÐGH thực hiện chuyến hành hương đặc biệt
đến đất thánh ở Do Thái. Ngài dừng lại thăm những nơi được
nói nhiều đến trong kinh thánh là Bethlehem, biển Galilee,
Jerusalem, sông Jordan, Nazareth. Ngài thăm các nhà lãnh
đạo chính trị của Israel, Jordan, Palestine và những nhà
lãnh đạo tôn giáo hàng đầu của Do Thái Giáo và Hồi Giáo.
12 -13 tháng 5
năm 2000: Ngài đi thăm nơi đức mẹ hiện ra ở Fatima,
Bồ Ðào Nha. Cuối cuộc viếng thăm Ngài phong chân phước cho
Francesco, Giacinta Marto là những em bé đã được Ðức Mẹ
hiện ra năm 1917. Tại đây Hồng Y Angelo Sodano, Quốc Vụ
Khanh Tòa Thánh, công bố bí mật thứ ba của phép lạ Fatima.
Bí mật này tiên tri việc ám hại ÐGH trong năm 1981.
1 tháng 10 năm
2000: Ðức Giáo Hoàng phong hiển thánh cho 123 vị
trong đó có 120 vị là thánh Tử Ðạo ở Trung Quốc. Vụ việc
này đã làm nhà cầm quyền Trung Quốc tức giận. Họ không những
không chấp nhận các vị thánh của ÐGH tấn phong mà còn gọi
những vị này cũng như các nhà truyền giáo ngoại quốc là
những tên phạm tội ác ở Trung Quốc.
11 tháng 9 năm
2003: Ðức Giáo Hoàng thăm Slovakia lần thứ hai. Lần
đầu tiên trong 102 chuyến tông du ra nước ngoài, vì bị bệnh
Parkinson và đau đầu gối và xương hông, ÐGH không đi đứng
được. Ngài đã không đọc hết được bài diễn văn, phải nhờ
Hồng Y phụ tá đọc tiếp.
16 tháng 10 năm
2003: Lúc 6 giờ chiều, gần đúng với giờ của 25 năm
trước, năm 1978, ÐGH long trọng cử hành thánh lễ mừng ngân
khánh 25 năm trong ngôi vị Giáo Hoàng. Ðức Gioan Phaolô
II là một trong bốn vị Giáo Hoàng cai quản Giáo Hội trong
thời gian lâu nhất.
15 tháng 8 năm
2004: Chuyến hành hương cuối cùng trong đời đến hang
đá Đức Mẹ Lộ Đức. Đó là chuyến công du thứ 104 với khoảng
đường đã đi 1.200.000 cây số. Trong 26 năm Giáo Hoàng Ngài
đã đi thăm 600 địa điểm khác nhau.
25 tháng 3 năm
2005: Thứ sáu Tuần Thánh, lần đầu tiên ĐGH không
tham dự trực tiếp chặng đường Thánh Giá tại công trường
Colosseo.
27 tháng 3 năm
2005: Chúa nhật Phục Sinh, lần đầu tiên ĐGH không
dâng thánh lễ mừng Chúa Ph ục Sinh tại công trường Thánh
Phêrô. Ngài chỉ ban phép lành mà không nói được tại cửa
sổ phòng của ngài.
30 tháng 3 năm
2005: Thứ tư tiếp kiến hàng tuần, Ngài xuất hiện
lần cuối cùng trước công chúng tại cửa sổ phòng của ngài
và chúc lành lần cuối cùng trong đời cho giáo dân tham dự.
2 tháng 4 năm
2005: Buổi tối thứ bẩy lúc 21g37 Đức Giáo Hoàng trút
hơi thở cuối cùng, chấm dứt cuộc lữ hành trần thế và giã
từ mọi người chúng ta.
Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cai quan Giáo
Hội được 26 năm, 5 tháng, 11 ngày. Ngài là triều Giáo Hoàng
lâu nhất đứng hàng thứ 3 trong lịch sử các Giáo Hoàng.
- Lâu nhất là thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng
đầu tiên do Chúa Giêsu chọn lựa. Ngài cai quản Giáo Hội
từ năm 30 đến năm 64 hay 67 tổng cộng 34 hay 37 năm.
- Vị thứ hai là ÐGH Pio thứ 9 ở ngôi vị
Giáo Hoàng 31 năm, 7 tháng, 22 ngày. Ngài tạ thế ngày 7
tháng 2 năm 1878. |