| Buổi tối
thứ bẩy, 02.4.2005 tôi cũng là một trong hàng tỉ người trên
thế giới, qua hệ thống truyền hình, đã trực tiếp được đón
nhận tin Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã an nghỉ trong
Chúa và bước vào ngưỡng cửa Nhà Cha. Vào lúc 21g37, Đức
Tổng Giám Mục Leonardo Sandri đã tuyên bố thật ngắn gọn
và tràn đầy ý nghĩa “Đức Thánh Cha của chúng ta đã về nhà
Cha" sau 26 năm, 5 tháng và 17 ngày làm mục tử toàn
thể giáo hội. Hàng trăm ngàn người đang có mặt tại quảng
trường Thánh Phêrô để canh thứ cầu nguyện với Vị Cha Chung
trong những giờ phút lâm chung, đã vỗ tay vang dội và ngay
sau đó lại chìm đắm trong một bầu khí thinh lặng cầu nguyện
thật sâu thẳm và an bình. Quả thực, đây là tràng pháo tay
dành cho một vĩ nhân lớn nhất của Giáo Hội và của toàn thế
giới, của thiên niên kỷ XX và XXI.
Tiếp sau đó, là hồi chuông báo tử từ Đền
Thánh Phêrô vang vọng khắp thánh đô Roma. Nhiều nhà thờ
trên thế giới, cũng đã kéo chuông báo tin cho các tín hữu
và mời gọi họ hiệp thông trong đại tang của Giáo Hội hoàn
vũ.
Suốt buổi chiều Chúa Nhật hôm qua, sau
khi đã bận rộn hướng dẫn khóa chuẩn bị hôn nhân cho các
bạn trẻ, tôi cũng dành thời gian để hiệp thông với toàn
thể giáo hội qua các biến cố và hình ảnh trong ngày Chúa
Nhật của Lòng Thương Xót Chúa, được trực tiếp truyền hình
trên thế giới.
Chưa bao giờ tôi chứng kiến đông đảo quần
chúng, thuộc đủ mọi dân tộc, mọi lứa tuổi, mọi tiếng nói,
mọi mầu da… tự động quy tụ bên một người Cha vừa từ trần
đến như thế! Chưa bao giờ tôi chứng kiến và lắng nghe nhiều
bản tin dồn dập, với biết bao nhiêu hình ảnh sống động,
đầy những tư liệu về cuộc đời Giáo Hoàng của ngài, với biết
bao những phát biểu đầy ý nghĩa và trào ra tự đáy lòng đến
thế. Chưa bao giờ tôi thấy một cái chết của một nhân vật
nào đánh động tâm hồn con người như vậy! Chưa bao giờ tôi
thấy nhiều bạn trẻ nước mắt dàn dụa chân thành khóc thương
đến thế! Chưa bao giờ tôi thấy một bầu khí thinh lặng, cung
kính sâu thẳm như vậy! Quả thật là vĩ đại! Quả thật là khôn
sánh! Quả thật là biến cố có một không hai trong lịch sử
nhân loại.
Nhiều nước đã ra lệnh để tang trên toàn
nước trong ba ngày và gửi thư chính thức phân ưu với Tòa
Thánh: đặc biệt là các nước cộng sản như Trung Hoa, Cuba
và các nước Hồi giáo như Ai Cập. Nhiều nhân vật nổi danh
đạo đời đã lên tiếng để vinh danh sự nghiệp vĩ đại của Đức
Thánh Cha, tôi không thể ghi lại hết ở đây được. Nhưng ít
ra, cũng xin ghi lại một vài lời vinh danh tiêu biểu.
Đức Hồng Y Karl Lehmann, chủ tịch Hội Đồng
Giám Mục Đức tán dương Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II là
“Chứng Tá quả cảm của Tin Mừng, Vĩ Nhân của Lịch sử thế
giới và mãi mãi là mẫu gương không phải chỉ cho người Công
Giáo. Sự cương quyết của Ngài đã đạp đổ nhiều bức tường,
trong đó có bức màn sắt“.
Đức Hồng Y Adrianus Simonis, chủ tịch Hội
Đồng Giám Mục Hòa Lan đã vinh danh Đức Thánh Cha là “đèn
hải đăng trong cơn bão xoáy và đã không ngừng tranh đấu
cho nhân quyền và nhân phẩm con người“.
Đức Đạt Lai Lạt Ma tôn vinh Đức Giáo Hoàng
Gioan-Phaolô II là “Vị lãnh đạo tinh thần lớn lao nhất“.
Ông Mikhail Gorbachev vinh danh Đức Giáo
Hoàng Gioan-Phaolô II là “Nhân vật nhân bản hàng đầu của
địa cầu đã giã biệt chúng ta. Ngài đã có thể thực hiện thật
nhiều công việc không những nguyên cho người Công Giáo mà
còn cho toàn thể nhân loại “.
Ông Vladimir Putin của Nga vinh danh Đức
Giáo Hoàng như sau: “Đức Giáo Hoàng là một hình ảnh nổi
bật trong thời đại chúng ta, tên tuổi Ngài gắn liền với
cả một thời đại“.
Ông Kofi Annan, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc
đã vinh danh Đức Giáo Hoàng là «luật sư không mệt mỏi của
hòa bình».
Tổng thống George W. Bush nhân danh Hoa
Kỳ tôn vinh Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II là “Anh hùng tranh
đấu cho nhân phẩm và tự do: Giáo Hội Công Giáo đã mất đi
vị mục tử của mình, thế giới đã mất đi một vị thủ lãnh của
quyền tự do con người. Người tôi tớ tốt lành và trung tín
ấy đã được Thiên Chúa gọi về nhà Cha“. Ông đặc biệt đề cao
vai trò của Đức Giáo Hoàng trong cuộc chiến đấu chống lại
chế độ cộng sản mở đường cho chế độ dân chủ trong các nước
Đông Âu, nhất là tại Ba Lan, Quê Hương của Ngài.
Thủ tướng Canada, ông Paul Martin vinh
danh Đức Thánh Cha là “Tông đồ của hòa bình“.
Nữ Hoàng vương quốc Anh cũng đã gửi điện
thư chia buồn. Thủ tướng Anh Tony Blair đã vinh danh Đức
Thánh Cha: “Tấm gương sáng lạn một đức tin chân thật và
một tinh thần thẳm sâu. Thế giới vừa mất đi một nhà lãnh
đạo quan trọng nhất của thiên niên kỷ“.
Tổng thống Pháp đã vinh danh Đức Giáo Hoàng
là «Một Vị Giáo Chủ ngoại hạng, không ngừng chỉ cho hết
mọi người và hết mọi dân tộc con đường của hòa giải, của
liên đới và của tự do ».
Thủ tướng Bỉ Guy Verhofstadt đã vinh danh
Đức Giáo Hoàng như sau: “ Dù mà một số lập trường của Ngài
không được mọi người chấp nhận, nhưng không một ai có thể
chối cãi rằng Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã ghi dấu
ấn của Ngài vào hậu bán thế kỷ XX“.
Thủ tướng Thụy Điển, ông Goeran Persson,
Tin lành, đã vinh danh Đức Giáo Hoàng như sau: “Đức Gioan-Phaolô
II đã đóng vai chủ chốt trong các biến cố đảo lộn tại Đông
Âu và Trung Âu, cuối thời chiến tranh lạnh“.
Thủ tướng Na Uy, ông Kjell Magne Bondevik,
đã vinh danh Đức Giáo Hoàng: “Hòa Bình là trung tâm điểm
trong sứ điệp của Đức Gioan-Phaolô, Ngài là vị Giáo Hoàng
đầu tiên bắt tay liên lạc các tín đồ Do Thái giáo, Hồi Giáo
và với các tôn giáo khác“.
Ông thủ tướng Ariel Sharon Do Thái vinh
danh Đức Giáo Hoàng là“con người của hòa bình và người bạn
của dân tộc Do Thái“. Ông Sylvan Shalom, bộ trưởng ngoại
giao Israel đã lên tiếng như sau: «Hôm nay, Israel, dân
tộc Do thái và toàn thế giới đã mất đi một nhà vô địch của
hòa giải và tình huynh đệ giữa các tôn giáo».
Ông Mahmoud Abbas, chủ tịch Palestine vinh
danh Đức Giáo Hoàng “một gương mặt tôn giáo nổi bật, một
người tận hiến cuộc đời tranh đấu cho những giá trị của
hòa bình, tự do và bình đẳng...“
Tổng thống Nigeria, Olusegun Obasanjo đã
vinh danh Đức Giáo Hoàng “nhân vật đầy nhân đức và tình
thương“.
Vua Mohammed VI của Ma rốc đã vinh danh
Đức Giáo Hoàng là “nhân vật trổi vượt lan tỏa rộng rãi trên
quốc tế. Ngài đã hiến trọn cuộc đời phục vụ cho những lý
tưởng cao thượng nhất“.
Thủ tướng John Howard của Úc châu đã vinh
danh Đức Thánh Cha trên đài truyền hình ABC: “Một trong
những thành quả đáng kể nhất trong đời Ngài là việc đóng
góp để thực hiện cuộc giải phóng Quê Hương Ba Lan của Ngài,
chung cuộc đẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản“.
Ở Á Châu, Tân Hoa Xã của Trung Quốc đã
loan báo điện văn của Hội Công Giáo Ái Quốc gửi tới Tòa
Thánh Vatican như sau: “Rất đau buồn nhận được tin Đức Giáo
Hoàng Gioan-Phaolô II đã qua đời theo tiếng Chúa gọi để
muôn đời được an nghỉ trong Ngài. Quả thật là một mất mát
lớn lao cho các hoạt động mục vụ và truyền giáo của Giáo
Hội hoàn vũ“.
Khắp nơi từ Âu sang Á, từ Phi Châu đến
Mỹ Châu sang tới Úc Châu, nhất là tại Ba Lan, Quê Hương
của Ngài, hàng trăm ngàn người đã tự động tuốn về các thánh
đường để tưởng nhớ và hiệp thông trông cầu nguyện. Chắc
chắn không nhà báo nào có thể ghi ra hết tất cả các lời
vinh danh được…
Riêng tôi, là một linh mục nhỏ bé, tôi
cũng một hiệp tiếng vinh danh Vị Cha Chung khả kính khả
ái này. Tôi biết, khi tôi đặt bút viết những dòng này để
vinh danh Vị Cha Chung đã về Nhà Cha vào lúc 21g37 đêm thứ
bẩy ngày mùng 2.4.2005, tôi cảm thấy thật sự không biết
bắt đầu từ đâu. Cuộc đời của Ngài quá lớn lao, bước chân
của Ngài quá dài rộng, vòng tay của Ngài quá bao la, trái
tim của Ngài như biển cả, tình Ngài vời vợi hơn Thái Sơn…
Mặc dù vậy tôi cũng mạo muội ít hàng.
Tôi vui sướng và cảm tạ Chúa là Mục Tử
đã ban cho Hội thánh Chúa một mục tử đúng theo lòng Chúa
mong muốn: dấn thân cho đoàn chiên bằng cả cuộc đời của
Ngài, cho đến hơi thở cuối cùng.
Tôi cảm động vì chứng tá phi thường và
sống động của Vị Cha Chung trong bao năm tháng dài bệnh
tật, nhất là trong những tháng năm cuối đời. Vị Cha Chung
quả thực đã nên giống Chúa Kitô trên Thập Giá.
Tôi kính phục tâm hồn thanh thản bình an
và hoàn toàn phó thác của Ngài trước giờ lâm chung, về nhà
Cha, bước qua ngưỡng cửa trần gian vào ngưỡng cửa đời đời.
Mặc dù biết mình đang lâm tử, Ngài vẫn còn dành hết giây
phút còn lại cuối đời cho Giáo Hội và cho thế giới. Quả
là một chứng tá tuyệt vời.
Tôi luôn ghi nhớ khẩu hiệu đầu đời mục
tử toàn thể Giáo Hội của Ngài: “Đừng Sợ, hãy mở rộng mọi
cánh cửa cho Chúa Kitô“. Chính khẩu hiệu đó đã làm sụp đổ
chế đổ cộng sản vô thần. Chính khẩu hiệu đó mời gọi Giáo
Hội dấn thân vào mọi lãnh vực trần thế để làm men làm muối
cho đời.
Tôi đã đọc một số trong số 14 Thông Điệp,
13 Tông Hiến, 11 Tông Hiến và 42 Tông Thư và 6 cuốn sách
của Ngài viết, nhất là cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng“.
Mỗi thứ Năm Tuần Thánh các linh mục trên thế giới cũng như
tôi đều được Cha Chung gửi một lá thư riêng… Chớ gì toàn
thể giáo hội, mỗi tín hữu, các linh mục tu sĩ và các vị
đang giữ trọng trách mục tử dẫn dắt đoàn chiên Chúa trong
các giáo phận… hãy để tâm học hỏi, đào sâu và đem ra thể
hiện trong cuộc sống, trong hoạt động mục vụ.
Tôi đã theo dõi vết chân lữ hành của Vị
Cha Chung khắp mọi nẻo đường trên thế giới: quả thự là những
bước chân dài rộng, không hề mệt mỏi. Quả thực Ngài đã thực
hành sứ vụ của Phêrô, người Anh Cả đến để nâng đỡ đức tin
của anh em. Nhất là thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng cho
mọi tạo vật.
Tôi thấy nơi Vị Cha chung một trái tim
của Đấng Cứu Thế, yêu thương và bênh vực mọi bệnh nhân,
ôm ấp các trẻ em, kính trọng những người già cả, luôn bênh
vực và giúp đỡ những người cùng khốn. Nền văn minh tình
thương mà Ngài gieo rắc trên thế giới đầy hận thù đang sinh
hoa kết trái phong phú.
Tôi đã học bài học ái quốc chân chính của
Cha Chung. Chính lòng ái quốc chân chính ấy đã thổi luồng
sinh khí mới vào tâm hồn bao triệu người đồng hương, nhất
là tuổi trẻ và công nhân Ba Lan, để họ cùng nắm tay nhau
xây dựng một Quê Hương trong tự do và thanh bình, thoát
ách cộng sản vô thần.
Tôi kính phục và tự nhủ lòng mình hãy noi
gương tinh thần cương quyết dấn thân tranh đấu không mệt
mỏi, không nhượng bộ cho nhân quyền, cho hòa bình, cho công
bình xã hội… của Vị Cha Chung khả kính.
Tôi luôn kính phục Vị Cha Chung trong công
cuộc đối thoại với các tôn giáo để cùng xây dựng cho hòa
bình và đạo đức của thế giới sa đọa và vật chất hôm nay.
Tôi chia sẻ những nỗi khổ tâm của Vị Cha
Chung trong những năm làm mục tử Hội Thánh: bao nhiêu thánh
giá về bệnh tật, bao nhiêu những đau khổ tinh thần, bao
nhiêu những lo âu cho hòa bình thế giới, biết bao những
gánh nặng chồng chất trên vai, biết bao những chống đối,
những phê bình chỉ trích, nhất là từ trong lòng giáo hội…
Tôi kính phục lòng tha thứ rộng lượng của
Ngài đối với kẻ thù đã bắn Ngài bị trọng thương vào lúc
5g15 sau trưa ngày 13.05.1981: Ngài đã đến gặp Mehmet Ali
Agca tại nhà tù vào ngày 27.12.1983, sau khi anh bị tòa
án Ý kết án tù chung thân và đã tha thứ cho Anh. Quả thật
là một trái tim phi thường, một hành động anh hùng và là
gương sáng cho toàn thể giáo hội biết tha thứ trong cuộc
sống, theo như lời Chúa dậy.
Tôi cũng hiệp thông với những gian lao
vất vả của Cha Chung trong bao năm tháng dài vận động cho
công cuộc hợp nhất Kitô giáo, nhất là với các giáo hội Chính
Thống. Ngài luôn đi bước trước và luôn kính trọng, nhường
nhịn, nhưng không nhượng bộ trong lãnh vực đức tin.
Tôi kính phục tiếng nói thẳng, nói thực
của Vị Cha Chung, không hề bao giờ “mị dân“ trong lãnh vực
luân lý, bảo vệ sự sống con người, chống phá thai, chống
đồng tính luyến ái… quyết tâm bảo vệ gia đình, nền tảng
của xã hội, tế bào của Hội Thánh.
Tôi hằng kinh ngạc trước tâm hồn trẻ trung
của Cha Chung khả kính khả ái, mặc dù tuổi già, mặc dù bệnh
tật, mặc dù đau đớn, cứ mỗi lần họp mặt giới trẻ trong tất
cả các Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, trong bất cứ một cuộc
công du nào ở bất cứ đất nước nào, hàng trăm ngàn bạn trẻ
háo hức, cuồng nhiệt… làm cho tâm hồn Cha chung cũng tươi
trẻ thêm, hứng khởi lạ lùng. Chẳng lạ gì mà thế hệ trẻ Gioan-Phaolô
II đang làm tươi trẻ Giáo hội. Giới trẻ đã tìm thấy nơi
Ngài một người Anh Cả, một người hướng đạo, chỉ đường, một
gương mẫu trung tín son sắt với Thiên Chúa, một trái tim
tràn đầy yêu thương cho tha nhân.
Tôi nghiêng mình trước sự thánh thiện của
Cha Chung. Cuộc đời của Ngài quả thực đầy tràn Thiên Chúa,
nên không lạ gì Ngài trở thành đá nam châm thu hút mọi người,
cuốn hút các bạn trẻ. Giữa biết bao nhiêu công vụ bận rộn
của một vị Giáo Hoàng mỗi ngày, tôi thấy Vị Cha Chung không
bao giờ bỏ cầu nguyện. Sáng sớm đã thức dậy nguyện ngắm.
Các giờ kinh nguyện của linh mục chắc chắn không bao giờ
bê trễ. Bằng chứng là những ngày nằm trên giường bệnh, Ngài
vẫn đi đàng Thánh Giá, vẫn hiệp thông trong giờ kinh. Ngay
cả một giờ trước khi qua đời, Ngài vẫn hiệp thông với cuộc
khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô trong Thánh Lễ. Không
lạ gì mà trong nhiều chứng từ của các bạn trẻ, ngay cả những
người lương dân, vẫn gọi Ngài là một vị thánh. Chính Ngài
đã đặt trên bàn thờ Giáo Hội 482 vị hiển thánh và 1338 vị
chân phước, để nêu gương cho mọi thành phần Dân Chúa.
Tôi ngưỡng mộ tình thảo hiền của Vị Cha
Chung đối với Đức Mẹ. Cuộc đời của Ngài từ khi chọn khẩu
hiệu “Totus Tuus“ (tận hiến cho Mẹ) cho tới lúc tắt thở,
quả thực “thảo kính“ đối với Mẹ trên trời. Chắc chắn, không
ngày nào Cha Chung bỏ lần hạt mân côi. Chắn chắn Mẹ trên
trời cũng đã ra tay phù giúp cuộc đời của người con yêu
dấu trong hơn 26 năm mục tử, và đã giơ tay dìu dắt Vị Cha
chung trong “giờ lâm tử“.
Tôi luôn ghi nhớ tình yêu thương và những
lời nhắn nhủ đầy tình phụ tử đặc biệt của Vị Cha Chung đối
với Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam, cũng như Cộng Đoàn Công
Giáo Việt Nam hải ngoại. Ai cũng biết rõ, Vị Cha chung hằng
ao ước được đặt chân đến Việt Nam, nhưng tiếc rằng vì những
lý do chính trị chưa thuận lợi, nhất là vì nhà cầm quyền
cộng sản Việt Nam không chấp thuận vì lo sợ cơn lốc Ba Lan
thổi đến Việt Nam, nên Vị Cha Chung đành ôm ước vọng này
về thế giới bên kia. Nhưng tôi vẫn tin tưởng chắc chắn rằng:
những tư tưởng cao đẹp của Vị Cha Chung về lòng ái quốc
chân chính, về tự do đích thực, về công lý và hòa bình,
về quyền tự do tôn giáo… đặc biệt trong những ngày này,
ngay sau khi Vị Cha Chung nằm xuống, đang thổi vào lòng
của Giáo Hội, đang thổi luồng sinh khí vào Cộng Đòan Công
Giáo Việt Nam, đang thổi vào tâm trí thế hệ trẻ Việt Nam
và hơn 80 triệu dân Việt Nam, để làm một cuộc cách mạng
tình thương, một cuộc cách mạng tinh thần, một cuộc cách
mạng tự do, một cuộc cách mạng đạo đức… bẻ tan ách gông
cùm của bất cứ thế lực gian tà nào! Để mọi người cùng quyết
tâm tranh đấu và quyết tâm xây dựng một xã hội công bằng,
tự do và đạo đức trước tiên cho bản thân, cho gia đình,
cho mỗi cộng đoàn, mỗi tổ chức và sau đó cho Giáo Hội, cho
các tôn giáo và cho toàn Quê Hương yêu dấu. |