| Bênêđictô
theo tiếng Latinh có nghĩa là "người
được chúc phúc" cùng với tên đặt Pius, Gioan,
Lêo, Phaolô và Innôcentô là những danh hiệu được nhiều Tân
Giáo Hoàng ưa thích chọn lựa khi đăng quang Giáo Hoàng.
Bênêđictô là tên của Vị Thánh lớn trong
Giáo Hội của thế kỷ thứ V. Đấng sáng lập dòng Biển Đức (Bênêđictô):
đó là Thánh Bênêđictô thành Nursia (Ý). Ngài sinh vào năm
480 tại Nursia và có ơn gọi ẩn tu. Ngài là đấng sáng lập
dòng ẩn tu tiên khởi với quy luật „Ora
et Labora“ (Cầu nguyện và làm việc). Dòng ẩn tu Biển
Đức đã được lan rộng mạnh lớn trong khắp Âu Châu qua nhiều
thế kỷ cho dòng nam và dòng nữ. Vòng quanh Âu Châu đếm được
hàng ngàn dòng tu Biển Đức lớn nhỏ, đã cho thấy thời cực
thịnh của ơn gọi ẩn tu lúc bấy giờ.
Thánh Bênêđictô qua đời ngày 21.03.547.
Ngày kính của Ngài là 11.7. hằng năm.
Thánh Bênêđictô được tuyên dương là Cha
Cả của các dòng tu Âu Châu, đồng thời cũng là đấng Bổn Mạng
của toàn Châu Âu.
Sau đây là danh sách 15 vị tiền nhiệm của
Tân Giáo Hoàng Bênêđictô XVI
mang cùng danh hiệu.
- ĐGH Bênêđictô I (575 - 579): Người Ý. Ngài qua đời
khi thành Roma bị vây hãm trong cuộc xâm lăng của người
Lombarđô. Lúc đó xảy ra nghèo đói và bệnh tật cho toàn
Âu Châu. Ngài lên ngôi Giáo Hoàng khi Tòa Thánh đã trống
ngôi Giáo Hoàng trong 10 tháng. Bắt đầu triều đại ngày:
02.6.575 cho đến 30.7.579.
- Thánh Giáo Hoàng Bênêđictô II (684 - 685): Người
Ý. Ngài được bầu làm Giáo Hoàng vào năm 683, nhưng cho
mãi tới ngày 26.6.684 mới đăng quang vì còn phải được
sự chấp thuận của hoàng đế Konstantin IV ở Konstantinopel
(Đông Phương). Ngài là một học giả uyên bác và có công
hàn gắn những chia rẽ của Giáo Hội La-mã và Đông Phương.
Ngài qua đời ngày 08.5.685, là vị Giáo Hoàng duy nhất
mang tên Bênêđictô được phóng thánh. Ngày kính là mồng
08 tháng 5.
- ĐGH Bênêđictô III (855 - 858): Người Ý, đăng quang
Giáo Hoàng ngày 29.9.855. Ngài nhấn mạnh đến vai trò
gia đình và nêu cao bí tích hôn phối. Trong thời này
nền luân lý nơi tầng lớp vua chúa, vương tước, quan
hầu xuống dốc và ngay cả trong hàng ngũ tu sĩ nam nữ.
Ngài đã mạnh tay chỉnh đốn lại và qua đời vào ngày mồng
07.4.858.
- ĐGH Bênêđictô IV (900 - 903): Người Ý. Ngài tiếp
tục đường hướng của Cố Giáo Hoàng Formosus là chống
lại quyền lực của vương hầu La-mã lúc bấy giờ. Ngài
qua đời vào mùa hè 903.
- ĐGH Bênêđictô V (964 - 965): Người Ý. Khi Đức Giáo
Hoàng Gioan XII qua đời, Ngài được hàng vua chúa tại
La-mã đề cử lên Giáo Hoàng nhưng đại đế Otto I không
đồng ý. Bởi thế khi Vua Otto I xâm chiếm được La-mã
bèn cách chức Ngài xuống hàng phó tế và mang Ngài về
Đức, nơi dây Ngài đã qua đời vào ngày 04.7.965. Xương
cốt của Ngài đã được vua Otto III mang lại về La-mã
vào năm 988.
- ĐGH Bênêđictô VI (973 - 974): Người Ý. Ngài là người
có quan hệ tốt với đại đế Otto I. Khi vua này qua đời
thì một nhóm vua chúa tại La-mã đã tạo dựng lên một
Ngụy Giáo Hoàng xưng tên Bonifatius VII và bắt ĐGH Bênêđictô
VI tống ngục. Ngài đã bị giết chết trong ngục thất vào
tháng 7.974.
- ĐGH Bênêđictô VII (974 - 983): Người Ý. Khi đại đế
Otto II lên ngôi thì giải thể ngay Ngụy Giáo Hoàng Bonifatius
VII và vị này phải chạy trốn qua Đông Phương ẩn náu.
Giám Mục của giáo phận Sutri được chọn làm Giáo Hoàng
và lấy danh hiệu Bênêđictô VII cùng năm 974. Ngài chủ
trương canh tân Giáo Hội và thúc đẩy công việc truyền
giáo. Ngài qua đời ngày 10.7.983.
- ĐGH Bênêđictô VIII (1012 - 1024): Người Ý, tên gọi
là Theophylakt II vì Ngài là người của hoàng tộc Tusculum
có nhiều thế lực. Vào năm 1020 kết hiệp với hoàng đế
của Bamberg để đánh đuổi người hồi giáo đang chiếm lấy
miền Nam Ý. Ngài quan tâm đến việc canh tân Giáo Hội
và củng cố luật sống độc thân cho hàng tu sĩ nam nữ.
Ngài qua đời vào ngày 09.4.1024. Người kế vị Giáo Hoàng
chính là em ruột của Ngài và lấy danh hiệu Gioan XIX.
- ĐGH Bênêđictô IX (1032 - 1047): Người Ý, tên gọi
là Theophylakt III thuộc hoàng tộc Tusculum. Ngài là
cháu ruột của của Giáo Hoàng Bênêđictô VIII và Giáo
Hoàng Gioan XIX. Ngài lên ngôi Giáo Hoàng lúc 18 tuổi.
Trong triều đại Giáo Hoàng này xảy ra nhiều cuộc ám
sát muốn giết Giáo hoàng. Ngài được bổ nhiệm làm Giáo
Hoàng 3 lần nhưng có hai lần bị ép rời ngôi Giáo Hoàng
và một lần thoái vị. Trong triều đại này có tới 3 Giáo
Hoàng là Bênêđictô IX, Silvester III và Gregor VI cùng
cầm quyền. Vào năm 1046 theo yêu cầu của Hoàng Đế Heinrich
III triệu tập Công Đồng tại Sutri truất phế 3 vị Giáo
Hoàng này và để cử Giáo Hoàng Clemens II cai quản Giáo
Hội.
- ĐGH Bênêđictô X (1058 - 1059): Người Ý, tên gọi là
Johannes Mincius và là giám mục của Velletri. Ngài được
nhóm vua chúa chống đối đường hướng canh tân Giáo Hội
bầu lên Giáo Hoàng. Cuộc bầu cử bị xem là bất hợp pháp
và Ngài bị truất phế vào năm 1059. Ngài qua đời vào
năm 1073 tại một tu viện ở Rôma.
- ĐGH Bênêđictô XI (1303 - 1304): Người Ý, tên gọi
là Nikolaus Boccasini. Ngài sinh năm 1240 ở Treviso,
Bắc Ý. Ngài nhập dòng Đa Minh và trở thành Hồng Y năm
1298. Khi lên ngôi Giáo Hoàng Ngài thực hiện chương
trình hòa giải với nước Pháp mà trước đây vị tiền nhiệm
là Giáo Hoàng Bonifatius VIII đã gây ra. Ngài qua đời
ngày 07.7.1034 tại Perugia.
- ĐGH Bênêđictô XII (1334 - 1342): Người Pháp, tên
gọi là Jacques Fournier. Trong triều đại này Tòa Thánh
từ Roma đã được chuyển sang vùng Avignon của Pháp và
Tòa Thánh tồn tại ở đây trong suốt 72 năm trời. Ngài
canh tân các luật dòng nhất là luật dòng Thánh Biển
Đức và cũng là người khởi công xây dựng Tòa Giáo Hoàng
tại Avigon. Muốn cho nước Pháp được độc lập Ngài kêu
gọi chống lại vua Ludwig của Bayern.
- ĐGH Bênêđictô XIII (1724 - 1730): Người Ý, sinh ngày
02.2.1649 tại Gravina, tên gọi là Pedro de Luna. Ngài
theo dòng Đa Minh, làm giám mục thành Benevent. Sau
70 ngày dài bầu Giáo Hoàng, Ngài được chọn vào ngày
29.5.1724. Sau đó Ngài đăng quang Giáo Hoàng vào ngày
04.6.1724. Ngài chủ trương cải cách chống lại thói quan
liêu của hàng giáo sĩ. Ngài qua đời ngày 21.2.1730.
- ĐGH Bênêđictô XIV (1740-1758): Người Ý, sinh ngày
21.3.1675 tại Bologna, tên gọi là Prosper Lambertini.
Từ 1701 làm việc trong giáo triều La-mã. 1726 được phong
chức Hồng Y. Vào ngày 17.8.1740 được bầu lên Giáo Hoàng.
Ngài canh tân giáo triều, soạn lại luật bí tích và các
luật dòng tu. Ngài qua đời ngày 03.5.1758.
- ĐGH Bênêđictô XV (1914 - 1922): Người Ý, sinh ngày
21.11.1854 tại Genua, tên gọi là Marquese Giacomo della
Chiesa, thuộc giòng dõi quý tộc. Vào năm 1875 đậu bằng
tiến sĩ về luật học và lúc đó mới theo ơn gọi học thần
học và học trường ngoại giao Tòa Thánh. Ngài được thăng
chức giám mục cho giáo phận Bologna vào ngày 16.12.1907
và được tấn phong Hồng Y vào ngày 25.5.1914. Trong thời
gian này xảy ra thế chiến thứ nhất. Ngài được bầu lên
Giáo Hoàng vào ngày 03.9.1914. Trong cuộc chiến Ngài
dấn thân kêu gọi 2 bên địch thù thương thuyết để tạo
dựng hoà bình, trong khi đó nhiều vị nguyên thủ khác
khoanh tay làm ngơ. Bởi thế Ngài được trao tặng danh
hiệu „Giáo Hoàng hòa bình“. Thế chiến chấm dứt vào năm
1917. Ngài qua đời vào năm 1922 sau cơn bệnh xưng phổi.
- ĐGH Bênêđictô XVI (19.4.2005 - ): Người Đức, XVI
sinh ngày 16.4.1927 tại Marktl am Inn vùng Altötting,
Đức quốc, với tên gọi là Joseph Alois Ratzinger. Ngài
là một thần học gia uyên bác của thế kỷ. Lúc 24 tuổi
cha Joseph Ratzinger chịu chức linh mục. Năm 30 tuổi
trở thành giáo sư thần học thực thụ, cho đến nay Ngài
vẫn là vị giáo sư trẻ nhất của nước Đức. Ngài đam mê
nghiên cứu thần học và về nhiều lãnh vực khoa học nghệ
thuật. Tư tưởng của Ngài đã để lại nhiều dấu vết tại
các đại học Đức ở Freising, Bonn, Münster, Tübingen,
Regensburg… Sự uyên bác của ngài đã vượt khỏi không
gian đến tận Công Đông Vaticanô II, để trở thành chuyên
gia thần học cho Công Đồng. Đọc lại tiểu sử của Ngài
cho thấy nhiều đại học đánh giá cao và trao cho Ngài
bằng tiễn sĩ danh dự (8 bằng tiến sĩ). Các tác phẩm
lớn với hơn 40 cuốn sách dầy cộm, mặc dù có sách đã
viết từ 1968 vẫn trở thành sách gối đầu giường cho sinh
viên thần học ngày nay. Có sách đã được dịch thuật qua
17 thứ tiếng khác nhau. Ngài còn là thành viên của nhiều
viện khoa học lớn trên thế giới. Ngoài đời cũng trao
tặng cho Ngài nhiều giải thưởng và huy chương danh dự
quốc gia. Bộ óc thông minh của ngài đã dồn được 10 ngôn
ngữ khác nhau vào trong đó và sử dụng được thuần thục.
Vào ngày 24.03.1977 Đức Giáo Hoàng Phaolô VI bổ nhiệm
Ngài làm Tổng Giám Mục München và Freising. Ba tháng
sau đó, 27.06.1977 Ngài được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI
tấn phong Hồng Y. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cử
ngài giữ chức tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin vào
ngày 25.11.1981, ngoài ra Ngài còn là chủ tịch Ủy Ban
Tòa Thánh về Thánh Kinh, và chủ tịch Ủy Ban Thần Học
Quốc Tế. Vào ngày 19.4.2005, lúc 18g41 Đức Hồng Y Estevez
xuất hiện trước ban công của đền thờ Thánh Phêrô bên
micrôphôn và công bố: “Anh Chị Em thân mến, tôi là Hồng
Y Estevez, tôi rất vui mừng được loan báo,” Ngài xúc
động ngừng lại thật lâu và nói tiếp bằng câu Latinh
nổi tiếng: “Habemus Papam” và người được tín nhiệm là
Đức Hồng Y Joseph Ratzinger và chọn tên Giáo Hoàng là
Bênêđictô XVI. Đây là cuộc bầu cử rất ngắn của 115 Hồng
Y hiện diện và cũng nói lên sự „đồng tâm nhất trí“ của
các Hồng Y dành cho Hồng Y Joseph Ratzinger, cuộc bầu
cử chỉ kéo dài trong 26 tiếng đồng hồ và trong vòng
bầu thứ tư của ngày bầu thứ hai. Ngày đăng quang Giáo
Hoàng là Chúa nhật 24.4.2005.
|