| BORSUM
- Đức quốc, ngày 26.4.2005 - Tôi không ngờ một vị Hồng
Y người Đức mà được đa số 2/3 của 114 vị Hồng Y khác tín
nhiệm bầu làm Giáo Hoàng thứ 265 của Hội Thánh Công Giáo.
Nước Đức là một quốc gia ít được lòng mến chuộng từ các
dân tộc khác vì nước này đã gây ra và để lại cho lịch sử
thế giới biết bao nhiêu thương đau về chiến tranh thứ nhất
(1917) và thứ hai (1945), nhất là tội ác diệt chủng 6 triệu
người Do Thái. Trong thời gian đen tối này đã gây nên bao
nhiêu đau buồn tang tóc cho chính người Đức và các quốc
gia láng giềng. Những hậu quả đó vẫn con lưu truyền dai
dẳng cho đến ngày nay. Rồi họ lại còn chịu cảnh chia đôi
đất nước trong 45 năm trời cho đến ngày thống nhất đất nước
03.10.1990: Đông theo chủ nghiã cộng sản và Tây theo khối
dân chủ tự do. Năm 2005 người Đức kỷ niệm 60 năm được chấm
dứt chiến tranh do quân đội đồng minh đổ bộ giải thoát họ
khỏi chủ nghiã Đức quốc xã. Tại Đức cũng là nơi nổi dậy
phong trào thệ phản tin lành vào thế kỷ thứ XV đã làm cho
người Kitô Hữu phải đau thương chia phương rẽ hướng theo
Tin Lành và Công Giáo.
Qua biến cố bầu Giáo Hoàng người Đức vào
ngày 19.4.2005 đang làm cho dân tộc này hãnh diện ngẩng
đầu lên và không còn mặc cảm đối với thế giới. Đức Giáo
Hoàng người Đức là một biểu tượng quan trọng nói lên điều
cộng đồng thế giới công nhận họ và đã xóa đi quá khứ đau
thương của họ. Một nhà thần học tại Rôma đã phát biểu: „Từ
thời Martin Luther (1483 – 1546) đến nay người Đức không
còn ai gây nên ấn tượng lớn lao về thần học như một người
CON của tiểu bang Bayern.“ Hơn thế nữa có người tại Tòa
Thánh lại nói thêm: „Hồng Y Joseph Ratzinger là bộ não của
Vatican.“ Điều chắc chắn trong thời đại này tại nước
Đức không có một ai nổi bật về tư tưởng như Hồng Y Joseph
Ratzinger. Ngạc nhiên hơn, các nhà chỉ trích Ngài phần đông
đều là người Đức.
Lúc 24 tuổi cha Joseph Ratzinger chịu chức
linh mục. Năm 30 tuổi trở thành giáo sư thần học thực thụ,
cho đến nay Ngài vẫn là vị giáo sư trẻ nhất của nước Đức.
Ngài đam mê nghiên cứu thần học và về nhiều lãnh vực khoa
học nghệ thuật. Tư tưởng của Ngài đã để lại nhiều dấu vết
tại các đại học Đức ở Freising, Bonn, Münster, Tübingen,
Regensburg… Sự uyên bác của ngài đã vượt khỏi không gian
đến tận Công Đông Vaticanô II, để trở thành chuyên gia thần
học cho Công Đồng. Đọc lại tiểu sử của Ngài cho thấy nhiều
đại học đánh giá cao và trao cho Ngài bằng tiễn sĩ danh
dự (7 bằng tiến sĩ). Các tác phẩm lớn với hơn 40 cuốn sách
giá trị, mặc dù có sách đã viết từ 1968 vẫn trở thành sách
gối đầu giường cho sinh viên thần học ngày nay. Có sách
đã được dịch thuật qua 17 thứ tiếng khác nhau. Ngài còn
là thành viên của nhiều viện khoa học lớn trên thế giới.
Ngoài đời cũng trao tặng cho Ngài nhiều giải thưởng và huy
chương danh dự quốc gia. Ngài cũng là một người nghệ thuật
chơi đàn Piano giỏi, đặc biệt thích nhạc của thần đồng Mozart.
Bộ óc thông minh của ngài đã dồn được 10 ngôn ngữ khác nhau
vào trong đó và sử dụng được thuần thục.
Ngài được nuôi dưỡng trong một gia đình
đạo hạnh và được hướng dẫn về đạo lẫn đời và về văn hóa.
Cha mẹ chỉ có 3 người con gồm 2 trai 1 gái, nhưng cả hai
người con trai đều dâng mình cho Thiên Chúa. Vào ngày 29.6.1951
hai anh em Georg và Joseph Ratzinger cùng được chịu chức
linh mục chung tại nhà thờ chính tòa Freising. Người anh
ruột tên Georg Ratzinger còn đang sống, được phong chức
Đức Ông và là giáo sư về Thánh Nhạc tại Regensburg. Mấy
ngày trước bầu cử Giáo Hoàng được phỏng vấn, người anh ruột
trả lời là không muốn em mình làm Giáo Hoàng vì đã lớn tuổi,
tuổi này cần được nghỉ ngơi.
Tại Roma người ta luôn nhìn thấy Hồng Y
Joseph Ratzinger hằng ngày cắp cặp táp màu đen, mặc áo chùng
thâm, đầu đội nón nỉ màu đen và nhẹ nhàng thả bộ từ chỗ
ở (Piazza della Citta Leonina) băng ngang qua công trường
Thánh Phêrô tiến vào thành Vatican đến nơi làm việc. Đã
24 năm Ngài đi bộ như vậy, không người thư ký đi kèm, không
người bảo vệ, nhìn qua hình ảnh này thì thấy Ngài thực sự
khiêm nhượng như một người bình thường trong chúng ta.
Thông thường, ai có cơ hội gặp gỡ và trao
đổi với Ngài thì sẽ nhận ra rằng Ngài là một người rất khiêm
tốn, lắng nghe, hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ và dịu dàng.
Khi tiếp chuyện người ta không thể ngờ được Ngài là một
người cầm cân nẩy mực của Tòa Thánh trong một phần tư thế
kỷ. Hơn thế nữa Ngài còn là một thần học gia chuyên tâm
cầu nguyện rất sốt sắng. Đức Hồng Y Joseph Ratzinger nguyên
là tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, và là vị tổng trưởng
lâu dài nhất trong triều đại ĐGH Gioan Phaolô II bao gồm
24 năm, trong thời này đã xảy ra 6 vụ về các nhà thần học
lạc giáo mà trong đó đã có 4 người Đức (như Hans Küng, Drewermann…)
và Ngài đã cắt chức giáo sư của các vị này. Trong những
năm vừa qua nói chung nền Thần Học Công Giáo được yên ổn.
Ngài chính là cánh tay mặt của ĐGH Gioan Phaolô II về tư
tưởng, triết lý cũng như thần học. Có thể nói mọi việc liên
quan với Giáo Hội Hoàn Vũ đều có ý kiến đóng góp của Ngài.
Chúng ta cũng không ngạc nhiên khi Ngài đã xin từ chức đến
lần thứ 3 mà Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vẫn chưa
chịu cho Ngài nghỉ hưu. Tại Đức người ta đặt danh hiệu cho
Ngài là „Cỗ Xe Tăng của Giáo Hội.“
Là người uyên bác và sẵn sàng tranh luận
tư tưởng, mà mỗi khi như vậy thì hầu như Ngài không có đối
thủ ngang tầm vóc. Tuy vậy dưới cái nhìn của nhóm chống
đối lạc đạo, phần đông là người Đức vì đã bị pha trộn giữa
Tin Lành và Công Giáo lại được hỗ trợ bởi giới truyền thông
lá cải, thì Ngài thường được xem như là một “quân canh”,
lạnh lùng, cứng rắn, bảo thủ sẵn sàng giáng vạ tuyệt thông
xuống cho những thần học gia bướng bỉnh đi chệch đường lối
Giáo Hội, hay là nhẹ hơn cho họ thời gian hối lỗi. Nhóm
người Đức chống đối này chỉ là một con số rất nhỏ, không
có ảnh hưởng gì đến Giáo Hội Đức, lâu lâu có dịp thì mới
phóng loa ra (như trong những ngày này). Để ý nhìn vẻ mặt
của họ như là những người bệnh hoạn, bất bình thường. Điều
ngạc nhiên hơn nữa là những vị mục sư tin lành cũng tham
gia vào sự chống đối này - mà đối với họ chẳng liên quan
gì đến giáo lý Công Giáo chúng ta, ngay cả một nữ giám mục
của họ cũng trỏ mồm trong truyền hình bình phẩm. Vị nữ giám
mục này mở tiếng chỉ trích thái quá và rất nhiều lần trong
tuần khi Hồng Y Đoàn bầu ĐHY Joseph Ratzinger lên ngôi Giáo
Hoàng, đến nỗi người phỏng vấn đã nhẹ nhàng hỏi: „Hình như
bà đang ghen tị với Giáo Hội Công Giáo chăng?“ thì bà ta
ú ớ không trả lời được. Điều trớ trêu là nhà thờ tin lành
của họ thì vắng bóng giáo dân đến đọc kinh thờ phượng vào
những ngày Chúa nhật, nếu có thì rất ít. Nội bộ họ chẳng
có gì tốt hơn, đắm chìm trong khủng hoảng và nhiều mâu thuẫn
với các mục sư đồng tình luyến ái sống chung trong nhà xứ
tin lành hoặc có những nữ mục sư ly dị đến 3 đời chồng,
thử hỏi làm sao họ đứng trên bục giảng gương mẫu nói về
tình yêu, sự trung thành và hạnh phúc gia đình cho giáo
dân được.
Tôi được may mắn học thần học tại Đức và
nghiên cứu vài tác phẩm của Đức Tân Giáo Hoàng Bênêđictô
XVI, hầu như các tư tưởng thần học phức tạp khó hiểu trong
thần học nền tảng được Ngài dẫn dải bằng ngôn ngữ bình dị
dễ hiểu và đi ngay vào vấn đề. Ngài diễn tả tư tưởng rất
rõ ràng và chính thống. Nghe những bài giảng trong tuần
vừa qua (ngày 08.4. và 18.4.2005) thì chúng ta càng hiểu
rõ Ngài muốn gì và nhận ra đường hướng của Ngài một cách
mạch lạc. Ngài nhắc nhở chúng ta như những con thuyền lạc
lõng trong sóng gió biển khơi được đánh bóng bằng mỹ từ
tự do và cá nhân chủ nghĩa. Tôi ghi nhớ đoạn văn này trong
bài giảng cho tuần khai mạc Mật Viện Hồng Y bầu Giáo Hoàng,
hôm 18.4.2005: “Biết bao nhiêu làn gió chủ thuyết mà
chúng ta đã biết đến trong những thập niên vừa qua… Con
thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi
những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái
cực khác: từ Mác-xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa
tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá
nhân; từ chủ nghĩa vô thần tới chủ nghĩa duy tâm huyền bí
tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa vô thần đến chủ nghĩa hỗn tạp,
v.v… Nhiều giáo phái mới được sinh ra mỗi ngày và thường
xảy ra điều mà Thánh Phaolô đã nhắc về sự lường gạt con
người và sự tinh quái nhắm lôi kéo con người đến chỗ lầm
lạc (x. Eph 4:14). Có một đức tin rõ ràng theo kinh Tin
Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong
khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để chính mình “bị sóng
đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý” dường như lại
là cách thức hành xử duy nhất thức thời. Người ta đang thành
lập một chế độ độc tài của chủ nghĩa tương đối, nó không
nhìn nhận điều gì là chung kết và để cho cái tôi và ý muốn
của mình là mẫu mực duy nhất….”
Có lẽ qua những bài giảng hùng hồn và tỏ
rõ tư tưởng đó, chính Ngài vô tình hay hữu ý đã đạt được
lòng mọi người và có một ảnh hưởng sâu rộng trong số các
vị Hồng Y cử tri trong cuộc bầu Giáo Hoàng vừa qua. Vậy
đây là cuộc bầu cử rất ngắn của 115 Hồng Y hiện diện và
cũng nói lên sự „đồng tâm nhất trí“ của các Hồng Y dành
cho Hồng Y Joseph Ratzinger, cuộc bầu cử chỉ kéo dài trong
26 tiếng đồng hồ và trong vòng bầu thứ tư của ngày bầu thứ
hai. Theo giới báo chí phỏng đoán Ngài đã chiếm được khoảng
90% lá phiếu của 115 Hồng Y, nghĩa là khoảng 100 người đã
tin tưởng chọn Ngài. Một con số mơ ước cho những nhà chính
trị trên thế giới.
Tôi vui mừng hạnh phúc chứng kiến Đức Tân
Giáo Hoàng Bênêđictô XVI giang tay chúc lành „Urbi
et Orbi“ cho thành Roma và thế giới vào chiều ngày
19.4.2005, tôi nhìn thấy trong Ngài là người xứng đáng kế
vị Thánh Phêrô và tiếp tục đi theo đường hướng của Đức Cố
Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Tôi hạnh phúc đã được nói chuyện
riêng với Ngài vào dịp lễ phong chức Hồng Y của Đức Cố Hồng
Y Phanxicô Thuận (ngày 21.2.2001). Và tôi càng tự hào hơn
khi nghe được điều khen ngợi của Ngài nói với tôi dành cho
Đức Cố Hồng Y Phanxicô Thuận: “Er ist ein großer Mann
in der Kirche“ (ĐHY Phanxicô Thuận là một vĩ nhân trong
Giáo Hội). Tôi còn được nghe Ngài khoe: „Những bài giảng
cấm phòng của Đức Hồng Y Thuận cho ĐGH (vào Năm Thánh 2000)
rất hay và nước Đức đang cần đến những tư tưởng đạo đức
này.“ Chính Ngài lại nói thêm: „Cha đang lo thúc
đẩy người thư ký riêng của Cha dịch sách tĩnh tâm này từ
tiếng Ý (Testimoni della Speranza) sang tiếng Đức cho người
Đức.“ Sách tiếng Đức „Hoffnung,
die uns trägt“ (Chứng Nhân Hy Vọng) đã trở thành
sách tâm linh được ưa thích tại Đức. Khi hồi tưởng đến những
điều này tôi lại nhớ đến và gần gũi Đức Tân Giáo Hoàng Bênêđictô
XVI nhiều hơn, vì đa đoan nhiều công việc tại giáo triều
Roma, mà Ngài vẫn còn làm được những việc yêu thương vĩ
đại như thế cho Đức HY Phanxicô Thuận và cho danh tiếng
người Việt chúng ta.
Là linh mục lo cho Mục Vụ Giới Trẻ VN tại
ĐHGT Thế Giới 2005, tôi vui mừng hơn nữa khi Ngài để ý đến
Giới Trẻ với câu nói đơn sơ lúc ĐHY Joachim Meisner, TGM
Köln đến hôn nhẫn chúc mừng ngay sau cuộc bầu Giáo Hoàng
tại nhà nguyện Sixtine: “Du, ich komme nach Köln.“
- Này Bạn ơi, tôi sẽ đến Köln (dịp ĐHGT-2005). Đấy là chương
trình công du đầu tiên của Ngài chỉ quyết định sau vài phút
làm Giáo Hoàng, như thế Giới Trẻ phải chiếm được một chỗ
đặc biệt lắm trong trái tim của Ngài. Qua ngày hôm sau khi
cử hành thánh lễ tạ ơn với Hồng Y Đoàn Ngài lại gửi thêm
thông điệp đến Giới Trẻ trong bài giảng bằng giọng ưu ái
yêu thương như một người ông dịu dàng ôm hôn đứa cháu:
„Cha đặc biệt nghĩ đến các bạn trẻ. Đối với các con, những
người bạn đặc biệt của Đức Cố GH Gioan Phaolô II, Cha gởi
cái hôn thân ái nhất của Cha đến cho các con, với hy vọng
theo như ý Chúa sẽ được gặp gỡ các con tại Köln nhân ngày
Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2005 sắp tới. Cùng với các con,
những người bạn trẻ thân thương của Cha, Cha sẽ tiếp tục
duy trì một cuộc đối thoại, lắng nghe những khát vọng của
chúng con để nỗ lực giúp các con trở nên những chứng tá
sống động hơn nữa trong cuộc sống và vẫn luôn trẻ mãi trong
Chúa Kitô.“
Trong ngày Chúa nhật, 24.4.2005 Khi Ngài
cử hành long trọng thánh lễ đăng quang Giáo Hoàng, lúc ấy
hàng trăm ngàn bạn trẻ hiện diện và hô to danh hiệu: Bê-nề-đết-tô
(tiếng Ý nhái đúng theo âm điệu cũ, khi các bạn trẻ hoan
hô chào mừng: Giovanni Paolo). Ngài cảm nhận được bầu khí
của ngày này là Giáo Hội sống mạnh và rất TRẺ TRUNG, cũng
như Giáo Hội đang mang trên vai trọng trách tương lai của
thế giới, như vậy Giáo Hội sẽ hướng dẫn con đường tương
lai cho từng người và cho giới trẻ chúng ta. Giới Trẻ được
nêu cao trong ngày đăng quang Giáo Hoàng vì lần đầu tiên
có đại diện giáo dân lên cầm tay ĐGH Bênêđictô tuyên hứa
sự trung thành với người Kế Vị Thánh Phêrô và hân hạnh có
2 thiếu niên đại diện cho Giới Trẻ. Không lạ gì khi Ngài
vui sướng đọc được những hàng chữ lớn trên các biểu ngữ
của các bạn trẻ Đức: „Heiliger Vater,
Wir lieben DICH“ – Chúng con yêu mến Đức Thánh Cha.
Các bạn trẻ Ý cũng biểu lộ xâu đậm bằng hàng chữ phất phới
trước gió: „Siamo con TE – Papa
Benedetto“ – Chúng con đồng hành với Đức Thánh Cha.
Sáng thứ hai, 25.4.2005 ĐGH Bênêđictô XVI đón tiếp các phái
đoàn nói tiếng Đức khoảng trên 10.000 ngàn người Đức tại
đại thính đường ĐGH Phaolô VI. Dịp này Ngài lại trực tiếp
khen ngợi Giới Trẻ: „Cha biết một điều không đúng sự
thật là Giới Trẻ chỉ muốn hưởng thụ, đua đòi chạy theo vật
chất, nhưng sự thật là các con muốn tìm điều cao thượng
hơn…“
Tôi thầm cảm tạ Thiên Chúa đã hướng dẫn
Hồng Y Đoàn để chọn được Đức Tân Giáo Hoàng Bênêđictô XVI
cho thời đại chúng ta. Thời đại đang tụt dốc trầm trọng
về mọi phương diện tại các nước tân tiến. Cái nhìn tiên
tri của ĐGH Bênêđictô là phải trở về truyền thống nền tảng
của Kitô giáo, từ đó mới xây dựng được xã hội và con người.
Tôi cảm động đón nhận lời vàng ngọc khiêm tốn đầu tiên của
Giáo Hoàng: “Sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, các
Hồng Y đã bầu tôi làm Giáo Hoàng. Tôi chỉ là người thợ tầm
thường, khiêm nhu trong vườn nho của Thiên Chúa. Quan trọng
là Thiên Chúa bù đắp cho những thiếu xót của tôi. Tôi tin
tưởng vào lời cầu nguyện của Anh Chị Em. Thiên Chúa và Mẹ
Maria sẽ bầu cử cho tất cả chúng ta.”
Vâng, qua những ngày này từ vị bảo vệ (không
nhường bước) vững chắc Đức Tin Công Giáo trong 24 năm qua,
ĐGH Bênêđictô XVI đã trở nên vị Giáo Hoàng thương mến và
khiêm nhường, lúc nào cũng nở nụ cười nhân ái trên môi.
Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa đang trao tặng cho Giáo Hội vị
Mục Tử hiền từ.
Chúng ta nhớ cầu nguyện cho Đức Tân Giáo
Hoàng Bênêđictô XVI, người Cha Chung khiêm nhượng và rất
thương mến của mọi người chúng ta. Tôi thầm hát: „Này
con là Đá, trên viên Đá này Cha xây Giáo Hội muôn đời kiên
trung…“, và „Ta hãy cầu xin cho Đức Giáo Hoàng
Bê-nê-đic-tô…“ |