NỀN KINH TẾ
 

Đức là một trong những nền kinh tế công nghiệp nặng đứng hàng đầu trên thế giới. Đức nằm trong nhóm G-7, đại diện cho 7 quốc gia giàu nhất thế giới. Và với tư cách là một cường quốc hàng đầu trong liên minh Châu Âu, nước Đức đang phấn đấu cho một sự thống nhất kinh tế chặt chẽ hơn của châu lục này. Các ngân hàng Đức cũng rất hùng mạnh. Ví dụ, những quyết định của ngân hàng quốc gia Đức, Deutsche Bundesbank, về các vấn đề tiền tệ và lãi suất có ảnh hưởng đến tất cả các đồng tiền có liên quan đến đồng Mark Đức cũ trong hệ thống tiền tệ Châu Âu. Ngoài ra, đồng DM cũ là một trong những đồng tiền chuẩn để đối giá với đồng đô la.

Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thần kỳ của nước Đức đã bị suy giảm tạm thời trong những năm 1990, do ảnh hưởng của sự suy thoái toàn cầu và do những chi phí rất lớn để sắp xếp lại dân cư và những ngành công nghiệp không hiệu quả của Đông Đức cũ.

 
CÔNG NGHIỆP XE HƠI CỦA NƯỚC ĐỨC

Ngành công nghiệp xe hơi của nước Đức là ngành có quy mô lớn nhất ở châu Âu. Năm 1991 có 4,2 triệu xe hơi đã được sản xuất và một nửa trong số đó được bán ra nước ngoài. Chỉ có Nhật Bản và Mỹ là có sản lượng xe hơi sản xuất hàng năm nhiều hơn Đức mà thôi.

Thành công lớn nhất của nước Đức là trong ngành sản xuất xe hơi chất lượng cao. Có lẽ những mác xe hơi quan trọng nhất thế giới ngày nay đều có xuất xứ từ nước Đức. Một người tên là Gottlieb Daimler đã phát minh ra động cơ xăng vào năm 1880 ở thành phố Stuttgart, trong khi một người khác là Karl Benz cũng có một phát minh tương tự ở Mannheim cách đó 130 Km.

Khi họ gặp nhau, họ quyết định làm việc chung để thiết kế ra một kiểu xe hơi. Kết quả là năm 1899, chiếc Daimler kiểu mới ra đời, được đặt tên theo tên con gái nhà quản lý Emil Jellinek là Mercedes Benz vơớ dấu hiệu sao 3 cánh đã trở thành một cái tên chung lan truyền khắp thế giới trong nhiều thập kỷ.

Một công ty xe hơi khác của nước Đức cũng rất nổi tiếng, đó là công ty Bayerische Motoren Werke, được biết đến nhiều hơn dưới cái tên rút gọn là BMW, một công ty sản xuất các động cơ máy bay từ thời thế chiến thứ I, sau đó bành trướng sang lãnh vực ôtô và xe hơi thể thao. Nhưng trong thập niên 1950, tương lai của công ty trở nên bấp bênh mãi cho đến khi các cổ phần chính của nó là gia đình Quandt mua lại công ty và biến nó trở thành một thế lực trong ngành chế tạo ôtô như hiện nay.

Sản phẩm của một công ty xe hơi khác của Đức trở thành đối thủ cạnh tranh của Daimler Benz để giành vị trí mác xe nổi tiếng nhất thế giới là xe Volkswagen. Năm 1938, hãng Volkswagen (có nghĩa là „xe hơi bình dân“) bắt đầu sản xuất hàng loạt một mẫu xe được thiết kế từ năm 1936 bởi hãng Ferdinand Porsche của Áo. Họ tiếp tục sản xuất loại xe này sau Thế chiến thứ II dưới sự điều hành của một nhà quản lý năng động là Heinz Nordhoff.

Công ty vẫn bị quốc hữu hóa toàn bộ mãi cho đến năm 1961, nhưng doanh số của nó bắt đầu sút giảm liên tục vì dân chúng đã trở nên giàu hơn và họ có thể mua những loại xe đắt tiền hơn. Tính đến điều đó, hãng phát triển một loại xe „Käfer“ (xe thanh niên) vào những năm 1980, và đó là chiếc Volkswagen Golf có doanh số thuộc hàng bán chạy nhất trên thế giới.

Hãng Volkswagen, có liên hệ với hai mác xe nổi tiếng khác nữa. Thứ nhất, công ty sở hữu chiếc Audi, một trong những hiệu xe sang trọng phổ biến nhất trên thế giới. Thứ hai, Ferdinand Porsche rời Volkswagen và lập ra một công ty ôtô của riêng mình vào những năm 1950. Hiện nay những người chuộng xe hơi thể thao vẫn còn yêu thích kiểu dáng thiết kế đẹp của chiếc Porsche, một nửa sản lượng xe Porsche đã được bán ở Hoa Kỳ.

Nhưng có một ghi nhận buồn: công ty xe hơi Trabant của Đông Đức cũ là một câu chuyện bi kịch của ngành sản xuất xe hơi. Nó phải đóng cửa chỉ một thời gian ngắn sau khi nước Đức tái thống nhất, khi phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ những nhà sản xuất xe hơi hùng mạnh và nổi tiếng hơn. Và hậu quả là một triệu người mất việc làm.

nach oben (top)

 
SỰ CHÊNH LỆCH GIỮA ĐÔNG VÀ TÂY

Sau ngày tái thống nhất, nước Đức đã phải trải qua nhiều năm khó khăn để ổn định tình hình, cần phải có thời gian trước khi 17 triệu người dân đang háo hức gặt hái được những lợi tức kinh tế cho mình. Với hoàn cảnh kinh tế mới, những ngành công nghiệp và các doanh nghiệp của Đông Đức cũ đang suy sụp, một số lớn đã phải đóng cửa và ngưng hoạt động. Các nhà quản lý có năng lực của Tây Đức đang giúp để cho một số doanh nghiệp có thể tiếp tục tồn tại được, nhưng lực lượng lao động ở đây có tay nghề yếu hơn và có ít động cơ làm việc hơn.

Vào năm 1992, phần của Đông Đức trong tổng sản phẩm quốc gia chỉ chiếm có 7%, và năng suất lao động chỉ bằng 30% so với Tây Đức. Sự trái ngược giữa các xí nghiệp, các ngành và các doanh nghiệp ở hai vùng Đông và Tây rất lớn cả về trang thiết bị, trình độ nhân công, tiêu chuẩn an toàn lao động và năng suất. Một cơ quan chính phủ, gọi là Treuhandanstalt đã được thành lập để tái cấu trúc lại toàn bộ nền kinh tế Đông Đức, chuyển sang nền kinh tế thị trường tự do. Đến cuối tháng 08.1993 có 12.800 xí nghiệp đã được tư nhân hóa và gần 3.000 xí nghiệp bị đóng cửa, số chưa được xử lý vẫn còn tới 1.500 xí nghiệp.

nach oben (top)

 
CÁC VẤN ĐỀ HIỆN TẠI

Đông Đức đang cần đầu tư rất lớn trong lãnh vực hạ tầng vì hầu hết nhà cửa ở đây đều đã xuống cấp và cần được sửa chữa. Năng suất nông nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề bởi việc cải cách ruộng đất trước đây, khi đó những trang trại vượt quá 100 Hec-ta đều bị tịch thu và phân chia lại thành những trang trại nhỏ hơn, hoạt động theo hình thức hợp tác xã. Xử lý lại vấn đề ruộng đất như thế nào cho đến giờ vẫn còn là một câu hỏi lớn.

Việc thống nhất tiền tệ, thông qua việc đổi tiền Đông Đức sang tiền Tây Đức, được hoàn thành vào tháng 06.1991, cho dù không phải là không có những người bị tổn thất lớn trong các khoản tiền tiết kiệm của mình.

Niềm hân hoan ban đầu đối với việc tái thống nhất nay đã biến mất khi hàng ngàn các vấn đề xuất hiện, chủ yếu là các vấn đề kinh tế và xã hội. Chính phủ thấy rằng đưa những người dân vốn đã sống quen với xã hội cộng sản sang xã hội tư bản chủ nghĩa thật chẳng dễ dàng chút nào. Trong cuộc thi đua kinh tế, Đông Đức đã bị tụt hậu khi họ cố gắng bảo đảm công việc làm theo lối cộng sản chủ nghĩa (sản xuất kém) và kiểm soát thị trường tự do. Một số xí nghiệp Tây Đức đã mau chóng thuê được những nhân lực giỏi nhất, lấy mất của Đông Đức cũ những chuyên gia có kinh nghiệm, đặc biệt trong lãnh vực chăm sóc sức khỏe và điều dưỡng.

Các công nhân Tây Đức thoạt đầu cũng hài lòng với việc tái thống nhất với các đồng bào của họ, nhưng bây giờ cảm thấy công ăn việc làm của họ đang bị đe dọa bởi dòng thác những công dân có tay nghề từ Đông Đức tràn sang, những người sẵn sàng làm việc với tiền công thấp hơn, bởi vì họ đã quen nhận mức thu nhập còn thấp hơn thế nữa ở các xí nghiệp Đông Đức cũ. Nhất là người Tây Đức phải đóng thêm 5% thuế đoàn kết để tài trợ cho việc tái xây dựng lại Đông Đức.

Tinh thần bài ngoại, bài Do Thái và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã tìm thấy sự ủng hộ trong số những người Đông Đức nghèo khổ. Những vụ tấn công người nhập cư của các tổ chức tân phát xít đang gia tăng và một số thành phố đã xảy ra nổi loạn.

nach oben (top)

 
NGHIỆP ĐOÀN

Nước Đức có một bộ luật lao động rất nghiêm ngặt để bảo vệ quyền lợi của những người lao động, và cho họ có được tiếng nói thực tế trong việc điều hành công ty nơi họ đang làm việc, bằng cách quy định chế độ đại diện công nhân trong ban quản lý. Các công ty sử dụng trên 2.000 nhân công có một Aufsichtsrat, tức là một hội đồng bao gồm các đại biểu của công nhân và ban quản lý. Các cơ sở có trên 5 công nhân phải có một Betriebsrat, tức hội đồng công nhân. Những hội đồng này sẽ được tham khảo ý kiến đối với các vấn đề như tuyển mộ, sa thải, thất nghiệp và công nghệ mới.

Trong những năm 1930, các phong trào của người lao động chia thành hơn 200 nhóm khác nhau, khiến cho không thể chống lại được chủ nghĩa quốc xã. Ngày nay, ở Đức có 17 nghiệp đoàn trong Deutscher Gewerkschaftsbund - liên minh các nghiệp đoàn nước Đức - và những nghiệp đoàn này tự coi mình như những người canh gác bảo vệ cho nền dân chủ. Khoảng 38% người lao động tham gia các nghiệp đoàn, trong các ngành công nghiệp nặng thì tỷ lệ đó vào khoảng 85 - 90%.

Các nghiệp đoàn đấu tranh cho điều kiện lao động tốt hơn, nhưng nỗi lo lắng lạm phát khiến cho họ không dám đòi tiền công quá mức. Các nghiệp đoàn thu xếp để sao cho tất cả các công nhân trong cùng một công ty sẽ cùng ở trong một công đoàn để tránh có sự xung đột và tránh phải thương lượng nhiều lần. Một khi thỏa thuận về tiền công hàng năm đã được ký kết thì cũng giống như đã ký được hiệp ước hòa bình và sẽ không có bãi công; trong quá trình thương lượng phải trải qua nhiều giai đoạn, và khi đó một cuộc đình công có thể xảy ra nếu được 75% số công nhân bỏ phiếu chấp thuận. Chỉ có công đoàn mới có quyền kêu gọi bãi công.

Người Đức là những người có truyền thống làm việc cần cù kỷ luật, cho dù có nhiều người cho rằng điều đó không đúng. Người Đức cũng có thời gian làm việc trong tuần ít nhất tại Châu Âu, chỉ sau người Bỉ, mỗi năm họ có 5 hay 6 tuần nghỉ phép và các ngày lễ công cộng được trả lương, tổng cộng là 39 ngày trong năm.

  
Mục Vụ Công Giáo Việt Nam
miền Ðông Bắc Ðức
(www.DHGT-2005.net)

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trang in (Printversion)
 
  Công nghiệp xe hơi của Nước Đức
  Sự Chênh lệch giữa Đông và Tây
  Các Vấn đề
hiện tại
  Nghiệp Đoàn
 
nach oben (top)
 
 Trang Trung Ương (Official Website): www.wjt2005.de    
 Trung Tâm Mục Vụ Borsum © (Impressum)